Thời hạn kháng cáo đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

 
Có 1 053 lượt xem

Qua thực tiễn hoạt động xét xử Luật sư bào chữa cho thấy, việc áp dụng không thống nhất các quy định của pháp luật không chỉ có nguyên nhân từ sự nhận thức của đội ngũ cán bộ tố tụng mà còn có nguyên nhân từ sự không đồng bộ của pháp luật.

Sau đây là một ví dụ luật sư trích dẫn.

Khi xét xử sơ thẩm một vụ án mà đương sự vắng mặt tại phiên tòa, trong phần cuối của bản án, tòa sơ thẩm tuyên như sau: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm…”.

Có hai loại quan điểm về vấn đề này như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng tuyên như vậy là không đúng, bởi vì chỉ trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì bản án mới phải niêm yết theo đoạn 2 điều 229 bộ luật tố tụng hình sự.

Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của chúng tôi cho rằng tuyên như vậy là đúng, bởi vì điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết”. Điểm 4.1, tiêu mục 4, mục 1 Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP của hội đồng thẩm phán TANDTC cũng hướng dẫn: “Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định. Ngày được xác định là ngày tòa tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc được niêm yết trong trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa”.

Nghị quyết nêu trên cũng dẫn ra ví dụ cụ thể như sau:

Ví dụ 2: Ngày 12/10/2005, TA xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vắng mặt người bị hại là A và cùng ngày tuyên án. Ngày 20/10/2005, TA mới giao bản án cho A hoặc niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi A cư trú. Trong trường hợp này ngày được xác định là ngày 20/10/2005 và thời điển bắt đầu tính thời hạn kháng cáo mười lăm ngày (đối với A_ là ngày 21/10/2005.

Có quan điểm khác nhau như trên là do quy định của Điều 229 và điều 234 BLTTHS không tương thích với nhau.

Điều 229 BLTTHS quy định: “Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày tuyên án, tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, VLS cùng cấp, người luật sư bào chữa; gửi bản án cho người bị xử vắng mặt…

Trong trường hợp xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc b khoản 2 điều 187 của Bộ luật này thì trong thời hạn nêu trên bản án phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo.

Như vậy, chỉ có bị cáo mới được giao hoặc niêm yết bản án còn người bị xử vắng mặt (người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án) thì tòa án cấp sơ thẩm không phải bàn giao bản án hoặc niêm yết bản án mà chỉ gửi bản án cho họ. Thế nhưng, điều 234 BLTTHS lại quy định thời hạn kháng cáo đối với đương sự vắng mặt tính từ ngày “bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết”.

Nhìn chung, việc giao, gửi bản án cho đương sự bị xử vắng mặt là khó khăn để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của họ, trong khi quy định của BLTTHS về giao, gửi bản án cũng như các văn bản tố tụng khác chưa được cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, đối với đương sự bị xử vắng mặt cần quy định nhiều phương thức khác nhau như giao, gửi, niêm yết bản án. Đồng thời, thời hạn kháng cáo đối với họ cũng phải phù hợp với các phương thức đó. Thiết nghĩ, nếu có điều kiện sửa đổi, bổ sung BLTTHS có thể tham khảo một số quy định trong BLTTDS về phương thức cấp, tống đạt, niêm yếu các văn bản tố tụng.

 Luật sư bào chữa giỏi hình sự

Công ty Luật Dragon

 
 
 
 
 

luật sư tranh tụng

luật sư sài gòn

luật sư tphcm