Bài luận cứ vụ án Đòi nợ

726

PHẦN 1
TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN

Bà Lê Thị Kính, sinh năm 1937, ngụ tại số 4 Bis Nguyễn Văn Cừ phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh có quen biết với ông Thái Điền Bảo Quốc và bà Nguyễn Thị Xuân Tiến thường trú tại số 67 – Phan Văn Trị, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Do có quen biết với nhau nên bà Lê Thị Kính đã cho vợ chồng Bảo Quốc, Xuân Tiến mượn một khoản tiền lớn, cụ thể theo bà Lê Thị Kính trình bày như sau:
– Ngày 20/11/1996 ông Quốc nhận     : 112.000.000 đ
– Ngày 16/12/1996  nhận             :   29.000.000 đ
– Ngày 30/01/1997 nhận             :   25.000.000 đ
– Ngày 06/02/1997  nhận            :   20.000.000 đ
– Ngày 28/02/1997  nhận            :   49.000.000 đ
– Ngày 13/7/1996 và ngày 17/7/1996 bà Tiến đã  nhận:  100.000.000 đ
Tất cả những lần nhận tiền này thì theo bà Lê Thị Kính là đã thoả thuận lãi suất 3%/tháng và đều có giấy biên nhận. Trên thực tế ông Quốc, bà Tiến đã trả lãi 2 lần, tổng cộng là 9.000.000 đ (chín triệu đồng).
Yêu cầu của bà Kính:
– Yêu cầu ông Quốc – bà Tiến trả số nợ vốn 345.000.000 đ và lãi suất 1,7%/tháng tính từ tháng 4/1997 đến tháng 4/1998 (một năm tròn).
– Yêu cầu phải trả một lần.
Theo quan điểm cảu ông Quốc – Bà Tiến:
Ông Quốc cho rằng: các phiếu nhận tiền ngày 20/11/1996, phiếu ngày 16/2/1996, phiếu nhận tiền 30/1/1997.
Ngày 06/2/1997 số tiền 20.000.000
Ngày 28/2/1997 số tiền 49.000.000
Đúng là do ông Quốc nhận nhưng tất cả ông Quốc đều đã đưa lại cho ông Thành – nguyên là Giám đốc Công ty Hùng Vương.
Bà Tiến cho rằng: Bà có ký giấy biên nhận tiền ngày 13/7/1996 số tiền 100.000.000 đ từ bà Kính và bà đã giao lại cho ông Phan Tấn Thành.
– Ý kiến của ông Quốc – bà Tiến:
Toàn bộ số tiền mà ông Quốc – bà Tiến nhận từ bà Kính có giấy biên nhận, họ đều giao lại cho ông Phan Tấn Thành nên họ không đồng ý trả 345.000.000 đ tiền vốn từ tháng 4/1997 đến tháng 4/1998, với lãi suất 1,7% tháng cho bà Lê Thị Kính như theo yêu cầu. Họ cho rằng trách nhiệm trả nợ cho bà Kính thuộc về ông Thành.
Ngày 15/3/1999 Toà án nhân dân quận 5, thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý hồ sơ khởi kiện đòi nợ theo yêu cầu của bà Lê Thị Kính – số thụ lý 44/HĐVN.

PHẦN 2
LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN: LÊ THỊ KÍNH
TRONG VỤ KIỆN ĐÒI NỢ ĐỐI VỚI ÔNG THÁI ĐIỀN BẢO QUỐC VÀ BÀ NGUYỄN XUÂN TIẾN

Kính thưa Hội đồng xét xử
Kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Tôi là: Luật sư Nguyễn Đắc Lộc thuộc văn phòng luật sư Phương Đông của đoàn luật sư Hà Nội, có mặt tại phiên toà hôm nay theo lời mời của bà Lê Thị Kính là nguyên đơn trong vụ “kiện đòi nợ” đối với ông Thái Điền Bảo Quốc và bà Nguyễn Xuân Tiến.
Mục đích của tôi tham gia phiên toà  hôm nay là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ của tôi là bà Lê Thị Kính, ngụ tại 4 bis, Nguyễn Văn Cừ, phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ có tại Toà án nhân dân quận 5, cũng như những tài liệu, chứng cứ thu thập được từ thân chủ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đặc biệt trong phần thẩm vấn, tranh luận tại phiên toà  hôm nay với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị Kính, tôi xin mạnh dạn được trình bày quan điểm của mình như sau:
Thứ nhất: Công ty TNHH TM Hùng Vương được thành lập theo quyết định 391 ngày 13/10/1992 của ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh do ông Phan Tấn Thành làm giám đốc, Công ty Hùng Vương có chức năng kinh doanh, mua bán, cung ứng xuất khẩu các mặt hàng nông sản, lương thực… theo giấy phép kinh doanh của Công ty thì chúng tôi  nhận thấy Công ty không có chức năng huy động vốn. Do đó, việc ông Thái ĐIền Bảo Quốc và bà Nguyễn Thị Xuân Tiến thuộc nhân viên của Công ty Hùng Vương cho rằng họ nhận tiền của bà Lê Thị Kính là theo lệnh của ông Phan Tấn Thành.
Cơ sở của họ đưa ra, thiết nghĩ không thể chấp nhận được, bởi không logic, không hợp lý cũng như không có cơ sở pháp luật, điều này bản thân ông Phan Tấn Thành cũng đã xác nhận khi chúng tôi được tiếp xúc trao đổi với ông.
Thứ hai: Ông Thái Điền Bảo Quốc và bà Nguyễn Thị Xuân Tiến đã nhiều lần nhận vay tiền của bà Kính, điều này là có cơ sở rõ ràng, được thể hiện trong các giấy biên nhận và có chữ ký nhận đàng hoàng và tự nguyện của người nhận như: ngày 20/11/1996 ông Quốc nhận từ bà Kính 122.000.000 đ và ông Quốc đã ký xác nhận ngày 16/12/1996 ông Quốc nhận 29.000.000 đ với chữ ký xác nhận là Bảo Quốc và một số giấy biên nhận khác đã được thể hiện trong hồ sơ (bút lục 2, 3, 4, 5) ngày 13/7/1996 và ngày 17/7/1996 bà Nguyễn Thị Xuân Tiến đã ký xác nhận vay 100.000.000 đ của bà Kính. Như vậy, việc ông Quốc và bà Tiến nhận tiền của bà Kính là có thật, bản thân ông Quốc, bà Tiến đã thừa nhận và thân chủ của tôi đã đưa ra được chứng cứ mang tính thuyết phục cao, đó là những giấy vay tiền có xác nhận của ông Quốc, bà Tiến, bởi thế chúng tôi vẫn giữ nguyên ý kiến như trong đơn đã trình bày, yêu cầu HĐXX lưu ý để xem xét.
Thứ ba: Những phiếu chi mà phía đơn cung cấp cho Toà án có trong hồ sơ tại bút lục 5, theo quan điểm thống nhất của chúng tôi là không thể chấp nhận và không coi đó là cơ sở để nói rằng ông Quốc – bà Tiến đã chi trả tiền lãi cho bà Kính bằng phiếu chi của Công ty Hùg Vương. Nhìn vào phiếu chi chúng tôi thấy rất rõ ngày 09/11/1997 ở phần họ tên người nhận tiền có ghi: “Bà Năm Bắc” (tức bà Kính) nhưng ở chữ ký người nhận tiền lại là Xuân Tiến. Tại phiếu chi ngày 2/4/1997 ghi rõ người nhận tiền là “anh Năm”. Nhưng ở mục người nhận tiền lại không có chữ ký xác nhận cảu ai, hơn nữa, vịêc ghi “anh Năm” là ai ở đây thì vợ chồng Quốc – Tiến cũng không biết được cụ thể như thế nào ?
Từ hai phiếu thu thể hiện trong hồ sơ, qua phân tích, đánh giá chúng tôi cho rằng, đó là hai phiếu chi giả, chẳng qua ông Quốc – bà Tiến muốn che dấu hành vi muốn “chiếm đoạt” của mình nên đã tạo dựng ra hai phiếu chi trên (BL 5).
Không thể coi đây là phiếu chi của Công ty TNHH Hùng Vương bởi không có bất kỳ một chứng cứ nào xác nhận: như dấu đỏ của Công ty, hay chữ ký thủ trưởng đơn vị, người lập phiếu…
Bởi những lý do trên, chúng tôi trân trọng đề nghị HĐXX bác bỏ hai phiếu chi mà ông Quốc – bà Tiến đã cung cấp.
Thứ tư: Việc ông Quốc – bà Tiến nại ra rằng ông bà nhận tiền từ bà Kính là theo lệnh của ông Phan Tấn Thành và những khoản tiền đó ông bà dều giao lại cho ông Thành. Về việc này chúng tôi thấy không đủ cơ sở vì không có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời khai của ông Quốc, bà Tiến là đúng cả, nên chúng tôi không chấp nhận việc trốn tranh trách nhiệm trả nợ của ông Quốc, bà Tiến.
Kính thưa HĐXX !
Từ những phân tích, đánh giá của chúng tôi về chức năng hoạt động của Công ty Hùng Vương, về giấy tờ biên nhận tiền của ông Quốc, bà Tiến, về tính không hợp lệ của phiếu chi… chúng tôi trân trọng đề nghị HĐXX áp dụng Điều 10, Điều 11, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Áp dụng Điều 295, Điều 471 – Bộ luật dân sự để:
Tuyên buộc ông Thái Điền Bảo Quốc và bà Nguyễn Thị Xuân Tiến có nghĩa vụ cùng trả nợ cho bà Lê Thị Kính, số tiền 415.380.000 . Trong đó:
Tiền vốn 345.000.000 đ, tiền lại: 70.380.000 đ với lãi suất 1,7% (trong thời gian từ 4/1994 đến 4/1998).
Chúng tôi tin tưởng và hy vọng vào sự phán quyết của HĐXX. Thay mặt thân chủ và nhân danh cá nhân, tôi xin kính chúc sức khoẻ HĐXX và xin trân trọng cảm ơn HĐXX đã lắng nghe.

Công  ty luật Dragon

========================================================

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Giám đốc - Thạc sĩ Luật sư:  Nguyễn Minh Long Công ty luật chuyên:
Hình sự - Thu hồi nợ - Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.
Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy:  Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Văn phòng luật sư quận Long Biên: Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội
Điện thoại: 1900 599 979 / 098.301.9109
Email: dragonlawfirm@gmail.com
Hệ thống Website:
www.vanphongluatsu.com.vn
www.congtyluatdragon.com
www.luatsubaochua.vn
www.dragonlaw.vn
#luatsubaochua #luatsutranhtung #luatsuhinhsu #luatsudatdai