1900599979

Điều 106. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Điều 106 luật hình sự năm 1999, quy định:

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ PHÒNG VỆ VÀ VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG:
Trong thời gian qua, tình trạng chống người thi hành công vụ xảy ra khá phổ biến ở nhiều nơi, nhất là trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm; nhiều cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bị người phạm tội tấn công, mặc dù trong tay có súng, có các phương tiện hỗ trợ nhưng vì “sợ” phạm tội nên đã không chống trả dẫn đến hy sinh hoặc bị thương tích nặng. Mặt khác, khi có sự việc người thi hành công vụ làm chết người phạm tội, nhưng do không am hiểu chế định phòng vệ chính đáng nên một số phương tiện thông tin đại chúng khi đưa tin thường “bênh” người có hành vi trái pháp luật chống lại người thi hành công vụ làm cho dư luận hiểu không đúng về những người thi hành công vụ. Ngoài ra, trong cuộc sống không ít trường hợp phạm tội trong trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đá nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử  do sức ép của dư luận hoặc phía nạn nhân nên các cơ quan tiến hành tố tụng thường lúng túng khi xác định trường hợp phạm tội có phải là phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay không ? Thực tiễn xét xử có nhiều vụ án Cơ quan điều tra đã khởi tố, Viện kiểm sát đã truy tố nhưng khi xét xử Toà án đã tuyên bị cáo không phạm tội vì xác định đó là trường hợp phòng vệ chính đáng; có trường hợp Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã kết án bị cáo phạm tội nhưng cấp giám đốc thẩm đã tuyên bố bị cáo không phạm tội vì xác định đó là trường hợp phòng vệ chính đáng; có trường hợp lẽ ra chỉ kết án bị cáo về tội giết người hoặc cố ý gây thương tích “do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” nhưng lại kết án bị cáo về phạm tội không có tình tiết “do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.v.v…làm cho việc áp dụng không thống nhất; đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến tâm lý của những người khi cần phải “phòng vệ” đối với hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc lợi ích của chính mình.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những quy định riêng về chế định này tuỳ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế – xã hội của mỗi nước. Luật hình sự nước ta, phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự với nội dung: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.” Luật hình sự của một số nước gọi là phòng vệ cần thiết (Điều 38 Bộ luật hình sự của liên bang Nga). Bộ luật hình sự năm 1999 đã không dùng thuật ngữ tương xứng mà thay vào đó là thuật ngữ cần thiết tuy không làm thay đổi bản chất của chế định phòng vệ chính đáng nhưng cũng làm cho việc vận dụng chế định này trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả hơn.

Cho đến nay, đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc tạp chí chuyên ngành bàn về phòng vệ chính đáng, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, vấn đề phòng vệ chính đáng trong luật hình sự vẫn là vấn đề nhiều người quan tâm; thực tiễn giải quyết cũng