1900599979

Việc xác định tuổi khi xem xét giải quyết trách nhiệm hình sự và áp dụng thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng mà nghi ngờ là người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đủ 18 tuổi trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết mà vẫn không xác định được chính xác tuổi của họ thì được giải quyết như thế nào?

Trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, thì việc xác định tuổi của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại… có ý nghĩa quan trọng để xác định tội danh, định khung hình phạt, quyết định hình phạt và áp dụng các biện pháp xử lý hình sự khác đối với người phạm tội. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, xác định tuổi của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi có ý nghĩa để xem xét áp dụng các thủ tục tố tụng thân thiện mà Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định đối với họ.

Xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về mọi tội phạm (tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng), trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác. Những tội phạm mà BLHS có quy định khác là những tội phạm có tuổi bắt đầu phải chịu TNHS cao hơn so với tuổi chịu TNHS tại Điều 12 BLHS năm 2015. Ví dụ, một số tội phạm sau đây đã được BLHS năm 2015 quy định tuổi bắt đầu chịu TNHS là đủ 18 tuổi trở lên: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146); Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147); Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325); Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329)…

Theo khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 BLHS năm 2015.

Theo khoản 2 Điều 14 BLHS năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 BLHS năm 2015 cũng phải chịu TNHS.

Trong quá trình xem xét, giải quyết nguồn tin về tội phạm, và quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, nếu có sự nghi ngờ về việc một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đủ tuổi chịu TNHS theo các quy định của BLHS thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết để xác định tuổi của người đó.

Thông thường, việc xác tuổi chịu TNHS của người bị nghi thực hiện tội phạm để giải quyết vấn đề TNHS của người đó căn cứ vào những tài liệu có ý nghĩa xác định tuổi như: Giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu…

Tuy nhiên, nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp hợp pháp cần thiết mà vẫn không xác định được chính xác tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị nghi ngờ là người chưa đủ tuổi chịu TNHS, thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội để xem xét, giải quyết. Theo đó, nếu chỉ xác định được tháng, thì phải lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của người thực hiện hành vi; nếu chỉ xác định được quý, thì phải lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh của người thực hiện hành vi; nếu chỉ xác định được nửa của năm sinh thì phải lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh của người thực hiện hành vi; nếu chỉ xác định được năm sinh, thì phải lấy ngày 31/12 trong năm đó làm ngày, tháng sinh của người thực hiện hành vi.

Ví dụ: Ngày 15/8/2020, Trần Văn A thực hiện hành vi cướp xe máy trị giá 30.000.000 đồng. Quá trình điều tra, mặc dù đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết nhưng Cơ quan điều tra chỉ xác định được A sinh vào tháng 8/2006. Trong trường hợp này phải coi A sinh ngày 31/8/2006 để kết luận A chưa đủ 14 tuổi, nghĩa là chưa đủ tuổi chịu TNHS. Do vậy, không thể truy cứu TNHS đối với A về Tội cướp tài sản.

Trường hợp có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu xác định tuổi chịu TNHS của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc không xác định được năm sinh của người bị nghi ngờ là chưa đủ tuổi chịu TNHS thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành giám định để xác định tuổi. Trên cơ sở kết quả giám định tuổi, các cơ quan tiến hành tố tụng phải lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi tại kết luận giám định để xác định tuổi của họ.

Ví dụ: Hoàng Văn B thực hiện hành vi cướp tài sản, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng không xác định được ngày, tháng, năm sinh của B nên đã đưa B đi giám định tuổi. Kết quả giám định xác định vào thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, B có độ tuổi trong khoảng từ 13 tuổi 9 tháng đến 14 tuổi 5 tháng. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra phải xác định vào thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, B mới 13 tuổi 9 tháng (chưa đến tuổi chịu TNHS). Do vậy, không được truy cứu TNHS đối với Hoàng Văn B.

Xác định tuổi của người phạm tội khi xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số quy định về độ tuổi nhất định của người phạm tội được coi là một trong những tình tiết để xem xét áp dụng các quy định của BLHS về miễn TNHS, giảm nhẹ TNHS, giảm nhẹ hình phạt hoặc không áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất. Cụ thể: Người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được miễn TNHS và áp dụng một trong những biện pháp giám sát, giáo dục ngoài những trường hợp miễn TNHS được áp dụng chung (khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015); người dưới 18 tuổi phạm tội có thể không phải chịu hình phạt (được miễn hình phạt) và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 96 BLHS năm 2015; người dưới 18 tuổi phạm tội không bị áp dụng hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình (các điều 39, 40, khoản 5 Điều 91 BLHS năm 2015); mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định (Điều 99 BLHS năm 2015); ngoài những điều kiện chung, hình phạt cải tạo không giam giữ có thể được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý; hình phạt cải tạo không giam giữ có thể được áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý và vô ý. Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó (Điều 100 BLHS năm 2015); đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định (Điều 101 BLHS năm 2015); việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội sẽ được tổng hợp ở mức thấp hơn so với việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp người đủ 18 tuổi trở lên phạm nhiều tội (Điều 103 BLHS năm 2015); điều kiện giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có lợi hơn so với điều kiện giảm mức hình phạt đã tuyên áp dụng đối với người phạm tội đủ 18 tuổi trở lên (Điều 105 BLHS năm 2015); điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù và điều kiện không bị coi là có án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án có lợi hơn so với người đủ 18 tuổi (Điều 107 BLHS năm 2015); người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên là một tình tiết giảm nhẹ TNHS (điểm o khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015); người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử thì không bị áp dụng hình phạt tử hình (Điều 40 BLHS năm 2015)…

  20 luật sư tham gia bào chữa trong vụ "đại án" tại Đắc Nông

Cùng với việc xác định tuổi chịu TNHS, trong những trường hợp mà BLHS năm 2015 có quy định về độ tuổi nhất định của người phạm tội là tình tiết để xem xét áp dụng các quy định về miễn TNHS, giảm nhẹ TNHS, giảm nhẹ hình phạt hoặc không áp dụng những hình phạt nghiêm khắc (chung thân, tử hình…), thì việc xác định tuổi của người phạm tội phù hợp với quy định về tuổi được ghi nhận trong luật là điều kiện cần thiết để áp dụng những quy định có lợi cho họ.

Đối với các trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng không xác định được chính xác tuổi của người phạm tội bị nghi ngờ là người dưới 18 tuổi thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào nguyên tắc suy đoán vô tội (và cũng phù hợp với quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015) để xác định tuổi. Cụ thể, nếu chỉ xác định được tháng sinh thì phải lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của người phạm tội; nếu chỉ xác định được quý thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh của người phạm tội; nếu chỉ xác định được nửa của năm sinh thì phải lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của nửa năm đó làm ngày, tháng sinh của người phạm tội; nếu chỉ xác định được năm sinh thì phải lấy ngày 31/12 trong năm đó làm ngày, tháng sinh của người phạm tội.

Trong trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu xác định tuổi của người phạm tội hoặc không xác định được năm sinh của người phạm tội nhưng nghi ngờ người phạm tội có thể là người dưới 18 tuổi thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành giám định tuổi. Trên cơ sở kết quả giám định tuổi, các cơ quan tiến hành tố tụng phải lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được trong kết luận giám định để xác định tuổi của họ.

Đối với các trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người phạm tội bị nghi ngờ là người đủ 70 tuổi trở lên (là điều kiện áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS) hoặc đủ 75 tuổi trở lên (là điều kiện để không áp dụng hình phạt tử hình), thì việc xác định tuổi của người phạm tội phải theo nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội. Theo đó, nếu chỉ xác định được tháng sinh thì phải lấy ngày 01 của tháng đó làm ngày sinh của người phạm tội; nếu chỉ xác định được quý, thì phải lấy ngày 01 của tháng đầu tiên trong quý đó làm ngày, tháng sinh của người phạm tội; nếu chỉ xác định được nửa của năm thì phải lấy ngày 01 của tháng đầu tiên trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh của người phạm tội; nếu chỉ xác định được năm sinh thì phải lấy ngày 01/01 trong năm đó làm ngày, tháng sinh của người phạm tội.

Ví dụ: Ngày 13/6/2020, Nguyễn Văn B thực hiện hành vi hủy hoại tài sản của người khác theo khoản 3 Điều 178 BLHS năm 2015. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết nhưng chỉ xác định được B sinh vào năm 1950 mà không xác định được B sinh ngày, tháng nào của năm 1950. Trong trường hợp này, phải coi B sinh ngày 01/01/1950 để kết luận B đã trên 70 tuổi. Do vậy, cần phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên” được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

 

Trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu để xác định tuổi của người phạm tội hoặc không xác định được năm sinh của người phạm tội bị nghi ngờ là người đủ 70 tuổi trở lên hoặc đủ 75 tuổi trở lên, thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành giám định để xác định tuổi. Trên cơ sở kết quả giám định tuổi, các cơ quan tiến hành tố tụng phải lấy tuổi cao nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được trong kết luận giám định để xác định tuổi của họ.

Ví dụ: Lê Ngọc C phạm tội giết người thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, tập trung nhiều tình tiết định khung hình phạt tăng nặng tại khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015, có mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng là tử hình. Mặc dù đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết nhưng cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được ngày, tháng, năm sinh của C nhưng nghi ngờ C có thể trên 75 tuổi nên đã đưa C đi giám định tuổi. Kết quả giám định xác định C có độ tuổi trong khoảng từ 74 tuổi 9 tháng đến 75 tuổi 5 tháng. Trong trường hợp này, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định tuổi của C là 75 tuổi 5 tháng (trên 75 tuổi) để không áp dụng hình phạt tử hình đối với C.

Xác định tuổi của người bị hại khi xem xét giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự

Với một số tội phạm được quy định trong BLHS thì dấu hiệu tuổi của người bị hại là dấu hiệu định tội. Ví dụ: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144); Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146); Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153); Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329)…

Một số tội phạm được quy định trong BLHS năm 2015 có dấu hiệu tuổi của người bị hại là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng. Ví dụ: Điểm c khoản 3 Điều 142; khoản 4 Điều 143; điểm đ khoản 2 các điều 249, 250, 252; điểm e khoản 2 Điều 251; điểm g khoản 2 các điều 253, 254; điểm c khoản 2 các điều 255, 256; điểm d khoản 2 các điều 257, 258…

Trong số các tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 52 BLHS năm 2015, tình tiết dưới 16 tuổi và đủ 70 tuổi trở lên của đối tượng tác động của tội phạm (người bị hại) được coi là một tình tiết tăng nặng TNHS (điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015).

Đối với các trường hợp trên, việc xác định tuổi của người bị hại có ý nghĩa trong việc xem xét giải quyết vấn đề TNHS (định tội, định khung hình phạt, áp dụng các biện pháp xử lý hình sự khác đối với người phạm tội).

Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội của một người có dấu hiệu của tội phạm mà tuổi của người bị hại là dấu hiệu định tội, định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng TNHS thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ tuổi của người bị hại. Trường hợp đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết nhưng không thể xác định được chính xác tuổi của người bị hại làm căn cứ để định tội, định khung hình phạt hoặc để áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS, thì phải kết luận trên cơ sở nguyên tắc suy đoán vô tội mà nội dung cốt lõi của nó là mọi nghi ngờ đối với người bị nghi là có tội (nghi là thực hiện tội phạm), nếu không thể được làm sáng tỏ bằng các biện pháp hợp pháp theo trình tự, thủ tục do luật định thì phải được kết luận, giải quyết theo hướng có lợi cho người bị nghi thực hiện tội phạm. Theo đó, khi xem xét giải quyết vấn đề TNHS của người bị nghi là thực hiện tội phạm liên quan đến việc xác định tuổi của người bị hại, thì phải được giải quyết như sau: Nếu chỉ xác định được tháng sinh thì lấy ngày 01 của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại; trường hợp chỉ xác định được quý thì lấy ngày 01 của tháng đầu tiên trong quý đó làm ngày, tháng sinh của người bị hại; trường hợp chỉ xác định được nửa của năm thì lấy ngày 01 của tháng đầu tiên trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh của người bị hại; trường hợp chỉ xác định được năm thì lấy ngày 01/01 trong năm đó làm ngày, tháng sinh của người bị hại.

  Kiểm sát quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

Ví dụ: Lê Văn Đ (16 tuổi) có quan hệ tình cảm với Nguyễn Thị L là bạn học cùng trường. Ngày 23/9/2020, Đ rủ L vào nhà nghỉ. Tại đây, hai người đã có hành vi quan hệ tình dục. Vụ việc sau đó bị phát hiện. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng tất cả các biện pháp hợp pháp cần thiết nhưng chỉ xác định được Nguyễn Thị L sinh vào tháng 9/2007 mà không thể xác định được ngày sinh cụ thể. Trong trường hợp này, theo nguyên tắc suy đoán vô tội, Cơ quan điều tra phải xác định Nguyễn Thị L sinh vào ngày 01/9/2007 để kết luận vào thời điểm Lê Văn Đ và Nguyễn Thị L thực hiện hành vi quan hệ tình dục thì Nguyễn Thị L đã trên 13 tuổi (13 tuổi 15 ngày). Do vậy, không thể truy cứu TNHS đối với Lê Văn Đ về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015.

Trường hợp có sự nghi ngờ về những tài liệu xác định tuổi của người bị hại hoặc đã áp dụng tất cả các biện pháp hợp pháp cần thiết nhưng không xác định được năm sinh của người bị hại liên quan đến việc giải quyết vấn đề TNHS của người bị nghi là thực hiện tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành giám định để xác định tuổi của người bị hại. Trên cơ sở kết quả giám định tuổi, các cơ quan tiến hành tố tụng phải lấy tuổi cao nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được trong kết luận giám định để xác định tuổi của người bị hại nhằm xem xét TNHS của người bị buộc tội.

Ví dụ: Trong vụ việc trên, Đ (16 tuổi) có hành vi quan hệ tình dục (thuận tình) với L bị nghi ngờ là người dưới 13 tuổi, Cơ quan điều tra đã đưa L đi giám định tuổi. Kết luận giám định xác định L có độ tuổi trong khoảng từ 12 tuổi 9 tháng đến 13 tuổi 5 tháng thì Cơ quan điều tra phải xác định tuổi của L là 13 tuổi 5 tháng. Do vậy, không thể truy cứu TNHS đối với Đ về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015.

Xác định tuổi của người bị buộc tội, tuổi của người bị hại khi xem xét áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi, một đối tượng yếu thế trong xã hội cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt, BLTTHS năm 2015 đã quy định về thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại và người làm chứng là người dưới 18 tuổi tại Chương XXVIII (từ Điều 413 đến Điều 430). Việc quy định thủ tục tố tụng riêng áp dụng đối với một số người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng là nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của họ khi tham gia các hoạt động tố tụng hình sự.

Để bảo đảm mọi trường hợp người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi đều được áp dụng các thủ tục tố tụng thân thiện, Điều 417 BLTTHS năm 2015 đã quy định về nguyên tắc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của họ.

Căn cứ quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015, Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Lao động, thương binh và xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018) đã hướng dẫn: Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau: Giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu.

 

Trường hợp các giấy tờ, tài liệu trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 BLTTHS năm 2015 để xác định tuổi của họ. Theo đó, trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh. Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh. Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh. Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi. Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ.

Quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 đều thể hiện rõ việc xác định tuổi trong trường hợp có nghi ngờ về tuổi mà không thể xác định được chính xác tuổi thì phải được kết luận theo hướng có lợi nhất cho người bị buộc tội và người bị hại là người dưới 18 tuổi.

Tuy nhiên, cần lưu ý là, Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 nêu trên chủ yếu được áp dụng trong trường hợp xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại bị nghi ngờ là người dưới 18 tuổi khi xem xét áp dụng thủ tục tố tụng tại Chương XXVIII BLTTHS năm 2015. Các quy định này không được áp dụng khi xác định tuổi của người bị buộc tội bị nghi ngờ là người đủ 70 tuổi trở lên (khi xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS) hoặc đủ 75 tuổi trở lên (khi xem xét hình phạt tử hình) và cũng không được áp dụng khi xác định tuổi của người bị hại liên quan đến việc giải quyết vấn đề TNHS của người bị nghi là thực hiện tội phạm.

Như đã phân tích, trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết mà không xác định được chính xác tuổi của người phạm tội bị nghi ngờ là người đủ 70 tuổi trở lên để có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS hoặc bị nghi ngờ là đủ 75 tuổi trở lên để không áp dụng hình phạt tử hình thì việc xác định tuổi của họ phải theo hướng họ là người có tuổi cao nhất trong khoảng tuổi đã được xác định bằng các tài liệu đã xác định được về tháng, quý, năm, nửa năm hoặc năm sinh của người phạm tội hoặc bằng kết quả giám định tuổi.

Khi giải quyết vấn đề TNHS có liên quan đến việc xác định tuổi của người bị hại mà không biết được chính xác tuổi của họ mặc dù đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết, thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định tuổi của người bị hại theo nguyên tắc suy đoán vô tội mà tư tưởng chủ đạo của nó là mọi nghi ngờ đối với người bị nghi thực hiện tội phạm (bao gồm người bị buộc tội, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố…) nếu không thể được làm sáng tỏ bằng các biện pháp hợp pháp theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì phải được kết luận, giải quyết theo hướng có lợi cho người bị nghi thực hiện tội phạm.

  Tìm hiểu về lệnh truy nã lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ví dụ 1: Ngày 15/10/2020, Trần Hiếu T (19 tuổi) có hành vi mua dâm Nguyễn Thanh M. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng tất cả các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được Nguyễn Thanh M sinh vào tháng 10/2002 mà không xác định được ngày sinh của M. Trong trường hợp này, căn cứ nguyên tắc suy đoán vô tội, phải lấy ngày 01/10/2002 là ngày sinh của M để quy kết khi Trần Hiếu T thực hiện hành vi mua dâm M thì Nguyễn Thanh M đã trên 18 tuổi. Do vậy, không thể truy cứu TNHS đối với Trần Hiếu T về Tội mua dâm người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 329 BLHS năm 2015.

Ví dụ 2: Ngày 05/11/2020, Nguyễn Hữu V (17 tuổi) có hành vi hiếp dâm đối với Lê Thị H. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu thập được các tài liệu xác định tuổi của H nên đưa H đi giám định tuổi. Kết quả giám định xác định Lê Thị H có độ tuổi trong khoảng từ 15 tuổi 10 tháng đến 16 tuổi 06 tháng. Trong trường hợp này, phải xác định tuổi của H là 16 tuổi 06 tháng để truy cứu TNHS đối với V về Tội hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015 (mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 07 năm tù) mà không được truy cứu TNHS đối với V về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo Điều 142 BLHS năm 2015 (mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù).

Như vậy, Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi chỉ có thể được viện dẫn áp dụng để xem xét áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nếu việc áp dụng đó không trái với nguyên tắc suy đoán vô tội. Nếu việc áp dụng Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Điều 6/2018 Thông tư liên tịch số 06 trái với nguyên tắc suy đoán vô tội thì phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để giải quyết.

Một số đề xuất, kiến nghị

Qua nghiên cứu vấn đề xác định tuổi khi giải quyết vấn đề TNHS và áp dụng thủ tục tố tụng đối với dưới 18 tuổi, chúng tôi có một số đề xuất sau đây:

Một là, Điều 431 Chương XXVIII BLTTHS năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi quy định phạm vi áp dụng của Chương này là đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, Điều 417 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi. Việc không quy định việc xác định tuổi của người làm chứng là người dưới 18 tuổi tại Điều 417 BLTTHS năm 2015 là thiếu thống nhất với Điều 413 BLTTHS năm 2015.

Mặt khác, ngoài người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi, thì những người tham gia tố tụng khác là người dưới 18 tuổi bị nghi thực hiện tội phạm như người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng cần được áp dụng các thủ tục tố tụng thân thiện để bảo đảm tốt nhất các quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi. Ví dụ: Khi lấy lời khai của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người dưới 18 tuổi cũng cần có sự tham gia của người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do vậy, theo chúng tôi, Điều 413 BLTTHS năm 2015 nên được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng cả đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người dưới 18 tuổi. Cùng với đó, Điều 417 BLTTHS năm 2015 cũng cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định những người cần xác định tuổi không chỉ là người bị buộc tội, người bị hại mà còn có người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người dưới 18 tuổi. Các điều luật khác có liên quan (Điều 420, Điều 421 BLTTHS năm 2015) cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Điều 413 và Điều 417 BLTTHS năm 2015 sửa đổi.

Hai là, Điều 417 BLTTHS năm 2015 quy định về “Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi” thuộc Chương XXVIII “Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi”. Như vậy, cần phải hiểu việc xác định tuổi người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi tại Điều 417 BLTTHS năm 2015 chủ yếu để xem xét áp dụng các quy định về thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích của họ chứ không phải nhằm giải quyết vấn đề TNHS (định tội, định khung hình phạt, xem xét quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt, quyết định hình phạt… đối với người phạm tội). Khi xem xét giải quyết vấn đề TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp tuổi của người bị hại được quy định là dấu hiệu định tội, định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng TNHS mà trên thực tế các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lại không thể xác định được chính xác tuổi của người đó, mặc dù đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết, thì không được áp dụng Điều 417 BLTTHS năm 2015 để xác định tuổi của người bị hại, vì áp dụng như vậy sẽ trái với nguyên tắc suy đoán vô tội. Để giải quyết vấn đề TNHS trong các trường hợp trên, nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp hợp pháp cần thiết theo trình tự, thủ tục do BLTTHS năm 2015 quy định mà không thể xác định được chính xác tuổi của người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lấy tuổi cao nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được qua các tài liệu xác định tháng, quý, năm sinh hoặc qua kết quả giám định tuổi, trừ trường hợp xác định tuổi của người là đối tượng tác động của tội phạm mà nghi họ là người đủ 70 tuổi trở lên, được coi là tình tiết tăng nặng TNHS tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, nhưng không thể xác định được chính xác tuổi mặc dù đã áp dụng các biện pháp hợp pháp cần thiết thì lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ.

Để tránh những nhận thức và áp dụng khác nhau theo Điều 417 BLTTHS năm 2015 thì nên bổ sung một khoản theo hướng Điều 417 không được áp dụng để giải quyết vấn đề TNHS đối với người bị nghi thực hiện tội phạm hoặc người phạm tội nếu việc áp dụng đó trái với nguyên tắc suy đoán vô tội.

Ba là, trên cơ sở Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Theo đó, đối tượng được suy đoán vô tội là người bị buộc tội. Điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 quy định “người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.

Theo chúng tôi, nguyên tắc suy đoán vô tội cần phải được áp dụng cho bất cứ ai bị nghi thực hiện tội phạm, không chỉ là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người tự thú, đầu thú mà đối với họ chưa có quyết định tạm giữ hoặc chưa có quyết định khởi tố bị can. Việc xác định tuổi của những người này khi xem xét giải quyết vấn đề TNHS cũng phải được dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội.

Bởi vậy, có thể thay thuật ngữ “người bị buộc tội” bằng thuật ngữ “người bị nghi thực hiện tội phạm” trong nguyên tắc suy đoán vô tội. Đồng thời, có sự giải thích về khái niệm người bị nghi thực hiện tội phạm rộng hơn so với khái niệm người bị buộc tội. Mặt khác, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự theo hướng bổ sung quy định: Mọi nghi ngờ đối với người bị nghi thực hiện tội phạm nếu không được làm sáng tỏ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì phải được kết luận, giải quyết theo hướng có lợi cho người bị nghi thực hiện tội phạm./.

Phạm Mạnh Hùng

(kiemsat.vn)
Xếp hạng
5/5

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest
Share on tumblr

Tư vấn trực tuyến

Bài viết liên quan

Giải đáp thắc mắc

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Giám đốc – Thạc sĩ Luật sư:  Nguyễn Minh Long

Công ty luật chuyên:

Hình sự – Thu hồi nợ – Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.

  • Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy:  Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
  • Văn phòng luật sư quận Long Biên: Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội
  • Điện thoại: 1900 599 979 / 098.301.9109Email: dragonlawfirm@gmail.com

Hệ thống Website:

#luatsubaochua, #luatsutranhtung, #luatsuhinhsu, #luatsugioibaochua, #luatsubaochuahanoi, #luatsubaochuahaiphong

Điều luật tham khảo

Văn bản luật

Thủ tục liên quan đến thuê luật sư

Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án hình sự

Luật hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi các chủ thể này thực hiện tội phạm. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, những người có quyền nhờ luật sư bào chữa bao gồm:

  • Người bị bắt.
  • Người bị tạm giữ.
  • Bị can.
  • Bị cáo.
  • Bị hại.
  • Nguyên đơn dân sự.
  • Bị đơn dân sự.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ngoài những đối tượng trên, theo quy định tại Điều 27 Luật Hình sự năm 2012, người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội cũng có quyền được nhờ luật sư bào chữa cho người bị buộc tội.

Quá trình tố tụng bắt đầu từ giai đoạn điều tra – truy tố – xét xử – thi hành án. Bất kể một cá nhân, đại diện, tổ chức nào ngay khi nhận được giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan điều tra hoặc tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng nêu trên đều có quyền và cần thiết phải nhờ sự hỗ trợ của luật sư.

Tuy nhiên, vì quá trình tố tụng kéo dài đói hỏi người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ phải là người đồng hành cùng thân chủ trong xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do đó, thời điểm tốt nhất để có thể nhờ luật sư bào chữa là ngay khi nhận được giấy triệu tập từ cơ quan điều tra. Vì, khi đó, luật sư có thể can thiệp pháp lý và bảo vệ cho thân chủ ngay từ giai đoạn đầu tiên.

Luật sư hình sự sẽ giúp ích gì cho bạn?

Luật sư hình sự tham gia vào vụ án hình sự trong suốt quá trình tố tụng từ sơ thẩm đến phúc thẩm hoặc có thể trong giai đoạn tái phẩm hoặc giám đốc thẩm với vai trò là người được nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự ủy quyền tham gia vụ án hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ.

Tham gia vào ngay từ giai đoạn xác minh ban đầu, khi có giấy triệu tập và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, luật sư hình sự có những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật để bảo vệ thân chủ. Đây là một trong những quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Đóng vai trò là người bảo vệ cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Vì sao bị can/bi cáo nên nhờ/thuê luật sư hình sự ngay từ ban đầu?

  • Từ khi bị triệu tập, nghi vấn phạm tội: có thể thuê luật sư ngay từ đầu để bảo vệ quyền lợi, có thể bị hình sự hóa trong quan hệ hình sự trong quá trình điều tra xét xử.
  • Giai đoạn tạm giam điều tra: Luật sư tiếp xúc trực tiếp với bị can/thân chủ hỏi cung, đối chất, đề xuất, kiến nghị tới cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu họ thực hiện đúng quy định pháp luật để bảo cho thân chủ.
  • Tham gia bảo vệ (bào chữa) cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, tranh tụng giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Đối với người bị hại thì Luật sư hình sự sẽ giúp ích những gì?

  • Luật sư thu thập chứng cứ
  • Tư vấn pháp luật hình sự cho người bị hại hiểu được hành vi của bi can/bị cáo biết được tội danh mà cơ quan điều tra khởi tố với người phạm tội đã đúng hay chưa
  • Giúp cho người bị hại soạn thảo các đơn từ kiến nghị để việc khởi tố/truy tố đối với bị can gây ra thương tích, gây ra thiệt hại cho người bị hại là “đúng người đúng tội”
  • Vấn đề về bồi thường: Luật sư tư vấn soạn thảo tính toán mức bồi thường để đưa ra yêu cầu xém xét bồi thường.

Tiêu chí để lựa chọn dịch vụ luật sư hình sự là gì?

Thông thường, mọi người có xu hướng lựa chọn luật sư thông qua quen biết vì cho rằng luật sư thông qua quen biết sẽ có độ tín nhiệm cao hơn hoặc là và có thể “nhờ vả” được. vậy đây có phải là một tiêu chí để lựa chọn luật sư?

Theo quy định tại quy tắc số 5 Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ của liên đoàn luật sư Việt Nam về quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thì một trong những quy tắc hành nghề chính là bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng, đây là một trong những quy tắc mà bất kì luật sư nào cũng thuộc nằm lòng.

Hơn nữa, hiện nay cuộc cách mạng cải cách tư pháp đã loại bỏ rất nhiều tiêu cực trong hoạt động tố tụng, quá trình xét xử, theo thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP quá trình xét xử phải được ghi âm ghi hình đảm bảo sự minh bạch rõ ràng tránh những hoạt động, hành vi tiêu cực trong xét xử.

Bất kỳ luật sư nào cũng có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho thân chủ của mình, và quy trình hoạt động tố tụng cũng đã được quy định chặt chẽ hơn, các hoạt động tiêu cực cũng từ đó bị triệt tiêu dần. Do đó, yếu tố người thân người quen không phải là một trong những yếu tố, tiêu chí để lựa chọn luật sư, mà tiêu chí để lựa chọn luật sư bao gồm những tiêu chí sau:

  • Luật sư có chuyên môn trong lĩnh vực hình sự, đây là một yếu tố quan trọng của một luật sư hình sự vì phải hiểu rõ lý luận pháp luật, cập nhật thường xuyên những thay đổi của pháp luật, am hiểu cơ chế hoạt động điều tra thì mới có thể bảo vệ tốt cho thân chủ của mình.
  • Luật sư có kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, trong thực tiễn và tham gia tố tụng trong nhiều vụ án vì càng tham gia nhiều vụ án thì càng tích lũy được nhiều bản lĩnh, kinh nghiệm thâm niên lâu có thể giải quyết được không chỉ những vấn đề pháp luật mà vấn đề quan hệ với các cơ quan tố tụng, cơ quan điều tra.
  • Thấu hiểu hoàn cảnh, động cơ, lý do, hoàn cảnh của thân chủ ví dụ như: do hoàn cảnh khó khăn, do nền tảng gia đình không tốt, do rơi vào tình thế bắt buộc, … từ đó mới xây dựng được phương án, cung cấp dịch vụ tốt nhất cho thân chủ.
  • Chi phí dịch vụ luật sư, tùy vào từng trường hợp, vụ việc cụ thể chi phí luật sư sẽ khác nhau, có những vụ án có tính chất phức tạp, thì ngoài chi phí luật sư còn nhiều chi phí khác như chi phí giám định thương tích thương tật, giám định tự thi, chi phí dựng hiện trường, … Do đó, Tùy vào từng vụ việc cụ thể và hoàn cảnh của thân chủ để đưa ra mức phí phù hợp.

Phí dịch vụ luật sư hình sự được tính như thế nào?

Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư phải thông báo rõ ràng mức thù lao, chi phí cho khách hàng, tuy nhiên, vì tính chất nhạy cảm của vụ án hình sự, chi phí dịch vụ hình sự không giống như các chi phí dịch vụ luật sư khác, không có mức phí cố định, rõ ràng.

Như đã đề cập ở trên, tùy vào từng trường hợp cụ thể của vụ việc mà phí dịch vụ luật sư sẽ khác nhau. Chi phí luật sư trong vụ án hình sự rất phức tạp, tùy vào từng sự việc, luật sư đưa ra mức chi phí cụ thể, do đó, quý khách hàng cần phải gặp trực tiếp với luật sư của công ty luật để có thể trao đổi và đánh giá tính phức tạp của vụ việc mới có thể đưa ra được mức phí phù hợp

Ngoài chi phí dịch vụ luật sư, còn có những khoản phí riêng khác, không nằm trong chi phí dịch vụ luật sư như:

  • Chi phí giám định thương tật
  • Chi phí cho người làm chứng
  • Chi phí bồi thường dân sự

Có cam kết kết quả trong vụ án hình sự không?

Công ty luật Dragon của chúng tôi đảm bảo thực hiện công việc theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và đảm bảo tuân thủ đúng 27 quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội Đồng luật sư toàn quốc.

Công ty chúng tôi luôn đặt quyền lợi khách hàng lên đầu, cam kết giữ bí mật những thông tin liên quan đến khách hàng, đem những hiểu biết, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, sự tận tâm, nhiệt tình của mình đến cho khách hàng.

Trên đây là toàn bộ nội dung bài giới thiệu dịch vụ luật sư hình sự và hướng dẫn cách chọn luật sư hình sự. Quý khách hàng nếu có nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư hình sự của công ty chúng tôi hoặc có thắc mắc về chính sách dịch vụ luật sư của công ty vui lòng liên hệ hotline 098.301.9109 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Luật Dragon nhận hỗ trợ “tư vấn” trực tuyến 24/24 qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: congtyluatdragon@gmail.com
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Dragon
  • CÔNG TY LUẬT DRAGON

    LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG QUÝ KHÁCH!

    TRỤ SỞ CHÍNH CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Add: Phòng 14.6, Tòa nhà Vimeco, Lô 9E, Đường Phạm Hùng, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Tel: 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN LUẬT SƯ TẠI QUẬN LONG BIÊN:

    Add: Số 24 ngách 29 Phố Trạm phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI HẢI PHÒNG:

    Add: Số 102, Lô 14 đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Lâm,Quận Hải An, Hải Phòng.

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI TP HCM:

    Tel : 1900. 599. 979

    =====================

    BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Luật Sư Nguyễn Minh Long

    Điện Thoại: 098.301.9109

    Email: dragonlawfirm@gmail.com

Quy trình giải quyết vụ án hình sự

Từ khóa: thuê luật sư vụ án hình sự,Giá thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư vụ án hình sự,Có nên thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư có được bồi thường,Hợp đồng thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư bào chữa, chi phí thuê luật sư bào chữa

Luật sư bào chữa giỏi tại Hải Phòng

Xã hội càng phát triển, nghề luật sư càng có vai trò quan trọng. Hằng ngày, nhiều tranh chấp, kiện tụng phát sinh và luật sư phải đứng ra tranh đấu để bảo vệ lẽ phải, công lý.

Bảo vệ lẽ phải

Luật sư Nguyễn Minh Long ở Văn phòng luật sư Dragon (Chi nhánh Hải Phòng) đã có gần 10 năm gắn bó với nghề. Giống như nhiều đồng nghiệp khác, công việc trong ngày của anh khá bận rộn và luôn phải di chuyển. Từ việc xếp lịch gặp khách hàng, lịch làm việc tại tòa án, đi thu thập chứng cứ… đều được anh thực hiện một cách cẩn trọng. Nhiều khi các luật sư còn trở thành chuyên gia tâm lý giúp thân chủ và người nhà yên tâm, tin tưởng vào lẽ phải.

Luật sư Long cho biết: “Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ công lý và lẽ phải. Vì vậy, mỗi vụ việc đều phải được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, chính xác, mất nhiều thời gian, công sức. Chỉ cần một sai sót cũng có thể dẫn đến những hậu quả khó lường”.

Giữ tâm trong sáng

Luật sư Long chia sẻ, hơn 10 năm gần đây, xã hội, con người có nhiều thay đổi, phát sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp. Các vụ án liên quan đến kinh tế, hình sự, tranh chấp đất đai, hôn nhân – gia đình xảy ra nhiều hơn, phức tạp hơn. Vì thế, công việc của giới luật sư cũng vất vả gấp nhiều lần. Tuy nhiên, anh quan niệm phải luôn giữ tâm trong sáng để mỗi vụ việc đều được xử lý chính xác, theo đúng pháp luật. Nhiều lúc, các luật sư còn trở thành chuyên gia tư vấn  miễn phí.

  Trách nhiệm của người liên quan vụ án ẩu đả

Năm 2012, luật sư Long nhận tư vấn thủ tục ly hôn cho một phụ nữ ngoài 50 tuổi ở Quận Hồng Bàng. Do người chồng làm thợ xây nên hay đi nhiều nơi, có quan hệ phức tạp, về nhà thường chửi mắng vợ con. Không chịu nổi tình cảnh này, người vợ quyết định ly hôn. Qua tiếp xúc và tìm hiểu câu chuyện, anh Phán nhận thấy vẫn có cơ hội cứu vãn cuộc hôn nhân này. Bằng vốn kinh nghiệm qua từng vụ án và đời sống thường ngày, anh phân tích, giảng giải để người phụ nữ kia hiểu được điều hơn, thiệt. Lúc đầu, người phụ nữ này không nghe mà cương quyết đưa chồng ra tòa. Tuy nhiên, sau nhiều lần tiếp xúc, động viên, phân giải, họ đã chữa lành được vết thương, bỏ qua những lỗi lầm để hàn gắn trở lại.

Một số người vẫn hay nghĩ luật sư là nghề có nhiều quan hệ, kiếm được nhiều tiền nhưng thực tế những khó khăn, vất vả chỉ có người trong nghề mới hiểu hết. Để có thể trở thành một luật sư phải trải qua một thời gian dài học tập và đào tạo. Theo quy định, ngoài tấm bằng cử nhân, luật sư phải qua lớp đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư, thời gian tập sự và thi qua kỳ thi kết thúc tập sự. Thời gian này tối thiểu là 6 năm hoặc có thể kéo dài hơn. Có người theo đuổi cả chục năm mới trở thành một luật sư.

  Tìm hiểu về lệnh truy nã lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Luật sư Long cho biết: “Công việc vất vả lắm nhưng thu nhập của anh em luật sư cũng chỉ đủ sống. Nhiều khi gặp trường hợp khó khăn, người cao tuổi, gia đình chính sách, chúng tôi chỉ làm giúp chứ không nhận phí. Gặp người tốt, sau khi tư vấn hay hoàn tất vụ việc thì họ đến có lời cảm ơn. Nhưng cũng có trường hợp mình thấy vấn đề của họ khiếu nại là sai, phân tích để nhận ra lẽ phải thì họ phản ứng ra mặt, thậm chí còn có những lời nói không đúng mực. Dù vậy, chúng tôi vẫn luôn giữ vững cái tâm với nghề”.

Công việc vất vả nên không phải ai cũng gắn bó được với nghề. Vì thế, người trẻ thường ít chọn học luật và đầu tư thời gian, chất xám để trở thành luật sư. Hiện nay, Hải Phòng có hơn 100 luật sư đang hành nghề, trong đó có khoảng 30 người là người cao tuổi, đã nghỉ hưu. Chỉ có tình yêu nghề mới giúp họ gắn bó với nghề luật sư trong thời gian dài. Mặc dù khó khăn là thế nhưng các luật sư như anh Long  luôn tin rằng nghề luật sư sẽ có triển vọng trong tương lai vì góp phần bảo đảm công bằng xã hội.

Văn phòng luật sư Dragon Hải Phòng

Khi nào cần thuê luật sư bào chữa

Thuê luật sư là việc người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị buộc tội, bị can, bị cáo và người thân thích của họ là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà… thuê luật sư bào chữa cho trường hợp của gia đình nhà mình

Vai trò của Luật sư, luật sư tham gia vụ án hình sự với vai trò là người bào chữa, khi thực hiện bào chữa cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong tất cả các giai đoạn từ Điều tra vụ án, khởi tố vụ án, Truy tố vụ án và xét xử vụ án, luật sư sẽ thực hiện các quyền bào chữa để bảo chữa cho các bị can, bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình. Việc luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn này là hết sức cần thiết vì tham gia ngay từ ban đầu sẽ bảo đảm được quyền của người bị bắt cũng như làm sáng tỏ các sự kiện khách quan của vụ án

Thuê luật sư bảo chữa cho bị can khi phạm tội Khi một ai đó có hành vi phạm tội đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan Công an khởi tố vụ án và khởi tố bị can, lúc đó người bị khởi tố trở thành bị can và có quyền mời luật sư bào chữa cho mình để tham gia vào vụ án. Luật sư khi tham gia bào chữa cho bị can sẽ giúp đỡ bị can về mặt pháp luật, sử dụng các biện pháp cần thiết và hợp pháp để bảo vệ bị can. Quá trình bào chữa của luật sư cho bị can từ khi bị mời lên làm việc, khi bị khởi tố tại cơ quan Điều tra, khi bị Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền truy tố bị can bằng Bản cáo trạng và cho đến khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. nói như vậy không có nghĩa là luật sư sẽ chấm dứt tư cách bào chữa cho bị can mà tư cách của bị can được chuyển sang thành tư cách Bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Khi một bị can hay người bị buộc tội bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lúc đó được chuyển sang một tư cách mới là tư cách bị cáo, Luật sư người bào chữa tiếp tục bào chữa cho bị cáo trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án ở giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị cáo có kháng cáo và tiếp tục mời luật sư bào chữa cho mình. Luật sư bào chữa cho bị cáo có những quyền và nghĩa vụ nhất định, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cũng như trao đổi với bị cáo để sao cho bào chữa cho bị cáo được tốt nhất.

Thuê luật sư tham gia vụ án hình sự là trường hợp đã xác định một vụ án hình sự, vụ án có thể hình thành từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành điều tra hoặc có thể vụ án đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành xem xét truy tố ra tòa án và cũng có thể vụ án đã được tòa án chuẩn bị đưa ra xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Luật sư tham gia vào vụ án hình sự sẽ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của người bào chữa để nghiên cứu hồ sơ và bào chữa cho người được bào chữa.

  Trách nhiệm của người liên quan vụ án ẩu đả

Thuê luật sư bảo vệ cho người bị hại trong vụ án hình sự: Trong vụ án hình sự liên quan đến thiệt hại luật sư sẽ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại, tham gia và các giai đoạn tố tụng tại Cơ quan Điều tra, Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án; sao chụp hồ sơ tài liệu, thu thập chứng cứ và đưa ra cũng như bảo vệ các yêu cầu về bồi thường thiệt hịa cho người bị hại. Trong quá trình tranh tụ tại Tòa án, Luật sư sẽ phát biểu quản điểm luận tội đối với các bị cáo đã gây ra cho bị hại; nếu vụ án cần phải kháng cáo luật sư sẽ giúp bị hại thực hiện việc kháng cáo bản án theo quy định.

Thuê luật sư bào chữa cho người chưa thành niên, người chưa thành niên khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là những người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (14 tuổi) nhưng chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi phạm tội thì bắt buộc phải có luật sư. Thông thường bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp hay người giám hộ sẽ thuê luật sư bào chữa. Trường hợp không thể có điều kiện thuê luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định luật sư bào chữa. Đây là quyền cơ bản của người dưới thành niên để có thể bào chữa cho hộ được tốt nhất.

Luật sư bào chữa để trả hồ sơ điều tra bổ sung là trường hợp luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và vào từng giai đoạn cụ thể có thể là giai đoạn truy tố tại Viện kiểm sát, Luật sư kiến nghị việc trả hồ sơ cho cơ quan Điều tra để tiến hành điều tra bổ sung hoặc sau khi Viện kiểm sát đã quyết định truy tố bằng Bản cáo trạng ra Tòa án có thẩm quyền thì Luật sư kiến nghị Thẩm phán thụ lý vụ án ra Quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tại phiên tòa luật sư bào chữa để Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Giai đoạn mà luật sư có quyền tham gia theo quy định tại Bộ luật TTHS, Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

“a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.”

Bên cạnh đó, Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:

  Luật sư bào chữa vụ "vứt con mới đẻ"

“Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.”

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

“1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Bạn có thể tham khảo thêm nội dung tư vấn áp dụng văn bản pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

  Kiểm sát quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

1.  Luật sư;

2.  Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

3.  Bào chữa viên nhân dân.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 58 BLTTHS có quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì Luật sư (người bào chữa) có quyền:

1.  Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

2.  Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

3.  Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

4.  Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;

5.  Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

6.  Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

7.  Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

8.  Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

9.  Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

10. Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Thuê luật sư bào chữa hình sự ở Hà Nội

Gọi cho một luật sư chuyên hình sự tại Hà Nội : 1900. 599. 979

Bạn đã bị buộc tội về một tội ác mà bạn đã không phạm phải và tìm kiếm công lý nhanh chóng và không bị tổn thương trong khi duy trì danh dự và nhân phẩm của bạn? Hoặc, có lẽ bạn đã là nạn nhân của một tội ác và tìm kiếm sự trừng phạt hợp pháp đối với những người đã làm hại bạn hoặc gia đình bạn. Bạn thậm chí có thể tự mình phạm tội và mong muốn giải quyết tốt nhất có thể. Bất kể nguyên nhân hay động cơ, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ tạo điều kiện cho công lý nhanh chóng và phù hợp cho các khách hàng tại Hà Nội và Hải Phòng của chúng tôi để họ nhận được phán quyết tốt nhất có thể.

Đó là, nếu bạn đã bị nhà nước buộc tội theo bộ luật hình sự, bắt buộc phải xuất hiện trước cơ quan quản lý hoặc muốn kháng cáo quyết định, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn cung cấp cho bạn sự hài lòng hoàn toàn. Hơn nữa, chúng tôi tính phí trên cơ sở lãi suất cố định để bạn nhận thức đầy đủ về các khoản chi tiêu trước khi chúng tôi thực hiện trường hợp của bạn. Bạn sẽ không bao giờ phải lo lắng về các cáo buộc ẩn hoặc những bất ngờ khó chịu khác trước và sau khi phán quyết được đưa ra.

  07 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo BLHS 2015

Hơn nữa, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn bảo vệ bạn một cách trung thực và đạo đức. Chúng tôi sẽ sử dụng mọi phương tiện theo ý của chúng tôi để đảm bảo rằng công lý được đáp ứng và bạn sẽ nhận được phán quyết tốt nhất có thể, đưa ra bằng chứng. Văn phòng luật sư Dragon cũng sẽ tham khảo đầy đủ với bạn về các tùy chọn có sẵn và đề xuất lựa chọn tốt nhất cho nhu cầu duy nhất của bạn. Đó là, chúng tôi luôn đặt lợi ích tốt nhất của bạn lên hàng đầu và sẽ thực hiện các bước chủ động để vượt ra ngoài sự đại diện đơn thuần.

Ví dụ, các luật sư hình sự tại Hà Nội của chúng tôi được yêu cầu đăng ký vào các chương trình sáng kiến ​​giáo dục thường xuyên để họ cập nhật kiến thức hiểu biết hệ thống pháp lý – và tất cả các sắc thái của nó – một cách triệt để. Chúng tôi cũng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ để đảm bảo rằng kiến ​​thức về các đạo luật pháp lý của chúng tôi luôn cập nhật và chính xác.

Do đó, nếu bạn đã bị buộc tội hoặc là nạn nhân của tội phạm, bạn sẽ cần một luật sư pháp lý tốt nhất để đưa ra phán quyết mà bạn mong muốn. Các công tố viên và luật sư hình sự tận tâm, có kinh nghiệm và có trình độ học vấn cao của chúng tôi có một hồ sơ theo dõi thành công đã được chứng minh và có khả năng sẽ tạo điều kiện cho bản án mà bạn và gia đình bạn mong muốn. Hơn nữa, chúng tôi đã xử lý các vụ án hình sự từ rửa tiền đến giết người hàng loạt. Do đó, không có vụ án hình sự nào ở Hà Nội quá tầm thường hay khó khăn đối với các luật sư hình sự tại Văn phòng Luật sư Dragon.

  Cấp Giấy chứng nhận luật sư bào chữa

Hãy cho chúng tôi về trường hợp hay vụ việc của bạn

Đại diện tư vấn trực tiếp của chúng tôi luôn sẵn sàng 24/7 để hỗ trợ bạn và có thể lên lịch tư vấn với chuyên gia luật của chúng tôi.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình.

Người bị bắt tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt tạm giữa người bị bắt tạm giữ được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

Người bị bắt tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp có các quyền:

– Được biết lý do mình bị giữ;

– Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự;

– Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

– Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

– Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá và các quyền khác

Người bị bắt tạm giữ có được quyền nhờ luật sư. Theo quy định thì người bị bắt tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bảo chữa cho mình. Nếu nhờ luật sư bào chữa họ có quyền yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ việc liên hệ luật sư để họ có thể nhờ luật sư bào chữa cho mình, ngoài ra họ cũng có các quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.

  20 luật sư tham gia bào chữa trong vụ "đại án" tại Đắc Nông

Người bị bắt theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự thì là bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt theo quyết định truy nã. Khi bị bắt người bị bắt có các nghĩa vụ chấp hành lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền bắt người theo quy định của pháp luật.

Người bị bắt khi bị bắt có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa và một số quyền cơ bản sau:

Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người. Và một số quyền khác.
Khi bị tạm giữ có được thuê luật sư? Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Ngoài các quyền cơ bản được quy định tại Khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc thuê luật sư bào chữa.

  Tìm hiểu về lệnh truy nã lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Thuê luật sư bào chữa tại Công ty luật Dragon. Vui lòng liên hệ: 1900.599.979

 

Khi chưa khởi tố mà nhận được giấy triệu tập của công an có nên thuê luật sư bào chữa

Tôi có giấy triệu tập của công an thành phố, liên quan đến tội trộm cắp xảy ra do bạn tôi làm đơn, mặc dù tôi khẳng định tôi không liên quan đến sự việc của bạn tôi mất trộm? mất bao nhiêu tiền? mất ở đâu ? như thế nào? bạn ấy làm đơn vu khống cho tôi.. Tôi bị công an gọi điện mời tôi, tôi vì không hiểu pháp luật nên đã ký hợp đồng thuê luật sư bào chữa bảo vệ cho tôi, đến lịch hẹn làm việc theo giấy triệu tập? Luật sư của tôi đi cùng tôi đến xuất trình tại công an điều tra như giấy giới thiệu, đơn mời luật sư bào chữa và thẻ luật sư, nhưng bên công an đã từ chối không cho luật sư bào chữa cho tôi tham gia với lý do, hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố tôi, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc, công an đề nghị tôi và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý? Lúc đấy tôi thấy luật sư bảo tôi cứ làm việc với công an và luật sư bỏ ra về. Tôi rất hoang mang và đã bị sốc nên từ chối không làm việc với công an và xin hẹn buổi khác, tôi có nói với công an là phải có luật sư thì tôi mới làm việc sau đó tôi đi về. Luật sư của tôi không giải thích cho tôi biết lý do và ý kiến của cơ quan điều tra đúng hay sai? Nay tôi nhờ luật sư tư vấn ý kiến của công an như vậy có đúng không? luật sư bảo vệ cho tôi làm như vậy có đúng không? Tôi rất hoang mang khi tìm chọn một công ty luật có uy tín mà lại có một luật sư hành xử như vậy? Rất mong Công ty luật Dragon tư vấn gấp cho tôi.

  Tầm quan trọng của việc thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động tố tụng nói chung và trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng

Phúc đáp yêu cầu tư vấn pháp luật của anh/chị, đề nghị cho ý kiến về một số nội dung pháp lý liên quan đến việc: người bị kiến nghị khởi tố/bị tố giác có được mời Luật sư không, Luật sư Công ty luật Dragon có ý kiến như sau:

*) Đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Theo như trình bày thì anh/chị đang bị tố giác về hành vi trộm cắp tài sản. Khoản 1 Điều 83 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác là người được người bị tố giác nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Luật sư là một trong những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác (điểm a khoản 2 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, anh/chị có quyền mời Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay từ khi bị tố giác (từ khi chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can).

Khoản 1 Điều 27 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012) quy định: “Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật này”.

Bộ Luật Tố tụng hình sự không quy định rõ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác phải xuất trình những giấy tờ gì khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm làm việc thực tế của Luật sư và quy định tại điểm a khoản 2 Điều 78 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì những giấy tờ Luật sư cần xuất trình khi làm việc với Cơ quan CSĐT là: Giấy giới thiệu của công ty luật cử luật sư đến cơ quan điều tra làm việc, Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu đơn mời luật sư của người bị tố giác ( anh chị cũng như Luật sư không phải xuất trình Hợp đồng dịch vụ pháp lý).

Như vậy, việc công an từ chối không cho luật sư tham gia với lý do: hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố bị can, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc và đề nghị anh và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý là vi phạm tố tụng.

  Kiểm sát quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

*) Quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Khoản 3 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác có quyền:

  1. a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  2. b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
  3. c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
  4. d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Luật sư bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh/chị không đưa ra ý kiến nào và bỏ về khi bị công an từ chối là không thực hiện quyền của mình theo quy định trên. Không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho khách hàng. Việc anh/chị từ chối không làm việc với công an, xin hẹn buổi khác và nói với công an là phải có luật sư bào chữa cho anh/chị thì anh/ chị mới làm việc với cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật.

  Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư

Trên đây là quan điểm ý kiến của Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Minh Long Giám đốc Công ty Luật Dragon – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội về nội dung vụ viêcj trên.

Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với Luật sư Hà Nội và Luật sư Hải Phòng theo địa chỉ dưới đây.

  1. Trụ sở chính Công ty Luật Dragon tại quận Cầu Giấy:  Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  2. VPĐD luật sư Công ty luật Dragon tại quận Long Biên: Số 24 Ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Tp Hà Nội.
  3. Chi nhánh Công ty Luật Dragon tại Hải Phòng: Phòng 6 tầng 4 Tòa Nhà Khánh Hội, đường Lê Hồng Phong, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.

Công ty Luật Dragon cung cấp biểu phí và thù lao luật sư bào chữa tham khảo tại đây

Trân trọng!

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Luật sư chuyên bào chữa vụ án hình sự

ĐIỀU LUẬT

ÁN LỆ