1900599979

Đặc trưng cơ bản của hoạt động giám định là hoạt động chuyên môn do chuyên gia hay một tổ chức thực hiện, nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ việc hay vụ án có tính chất phức tạp, kéo dài. Cơ quan, người có thẩm quyền (được pháp luật quy định) có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thu thập chứng cứ và một trong những biện pháp đó là trưng cầu giám định. Theo đó, trong một số trường hợp bắt buộc hoặc khi xét thấy cần thiết khi giải quyết vụ việc hay vụ án, cơ quan có thẩm quyền có thể trưng cầu các chuyên gia có kiến thức về lĩnh vực chuyên môn liên quan đến vụ việc, vụ án để thực hiện giám định. Khi thực hiện giám định, người giám định phải sử dụng những kiến thức nghiệp vụ, phương pháp, quy chuẩn chuyên môn của từng lĩnh vực cụ thể để thực hiện giám định và chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định do mình thực hiện. Từ nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân nên khi thực hiện giám định, người giám định không phải chịu chi phối từ phía cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền…

Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò của việc giám định liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc ra quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo, xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã quy định: “Trong quá trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, người giải quyết khiếu nại có quyền:…Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật” (Điểm e Khoản 1 Điều 44). Luật Khiếu nại năm 2011 (thay thế Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998) quy định: “Người giải quyết khiếu nại lần hai có các quyền sau đây:…Trưng cầu giám định” (Điểm d Khoản 1 Điều 15); Luật Tố cáo năm 2011, trong trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo không quy định thủ tục này, nhưng quy định hồ sơ vụ việc tố cáo, gồm: “…kết quả giám định trong quá trình giải quyết” (Điểm c Khoản 1 Điều 29). Tuy nhiên, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011 chưa đưa ra khái niệm, quy định về cách thức, trình tự thủ tục; quyền, nghĩa vụ của người giám định; chi phí giám định… trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo phần nào gây không ít khó khăn cho các cơ quan Nhà nước trong việc trưng cầu giám định khi giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo bức xúc, phức tạp, tồn đọng, kéo dài.

Năm 2013, căn cứ tình hình thực tiễn, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 quy định quy trình giải quyết tố cáo và Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; trong đó đã quy định việc trưng cầu giám định trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ thể:

(i) Điều 18 Thông tư số 06/2013/TT-TTCP quy định quy trình giải quyết tố cáo: “1. Khi xét thấy cần có sự đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc kết luận nội dung tố cáo, xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo thì người ra quyết định thành lập Tổ xác minh trưng cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám định.

2. Việc trưng cầu giám định thực hiện bằng văn bản trong đó nêu rõ tên cơ quan, tổ chức giám định; thông tin, tài liệu, bằng chứng cần giám định; nội dung yêu cầu giám định; thời hạn có kết luận giám định” (văn bản trưng cầu giám định thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này).

(ii) Điều 15 Thông tư số 07/2013/TT-TTCP quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính: “1. Khi xét thấy cần có sự đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc kết luận nội dung khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ xác minh trưng cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám định.

  Thẩm quyền giải quyết khiếu nại kết quả định giá tài sản

2. Việc trưng cầu giám định thực hiện bằng văn bản trong đó nêu rõ tên cơ quan, tổ chức giám định, thông tin, tài liệu, bằng chứng cần giám định, nội dung yêu cầu giám định, thời hạn có kết luận giám định” (văn bản trưng cầu giám định thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này).

Tại Khoản 5 Điều 1 Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 07/2013/TT-TTCP quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính đã sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 15