1900599979

Tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay rất phức tạp, nhưng việc xử lý loại tội này gặp nhiều vướng mắc khi đánh giá chứng cứ, trong đó có nguyên nhân là quy định pháp luật chưa rõ ràng, đầy đủ. Bài viết nêu một số kinh nghiệm trong giải quyết vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và kiến nghị giải pháp nhằm khắc phục vướng mắc và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án này.

Hải Phòng là một trong những địa phương có số lượng án ma túy lớn, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố diễn biến rất phức tạp; các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và khi bị phát hiện thì rất manh động, chống trả các lực lượng chức năng. Ma túy được mua bán, vận chuyển, sản xuất với số lượng rất lớn, ngày càng nhiều chủng loại, với nhiều tên gọi, hình dáng khác nhau. Việc tiêu thụ ma túy dưới hình thức tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng len lỏi vào nhiều nhà hàng, khách sạn, quán bar, vũ trường, quán karaoke…

Trong 05 năm (từ ngày 01/12/2015 đến ngày 30/11/2020), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết 2.317 vụ/2.976 bị can (chiếm 37% tổng số án hình sự), chủ yếu là các tội: Mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy, sản xuất trái phép chất ma túy… Riêng tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, do còn có nhiều vướng mắc, có quan điểm khác nhau trong việc đánh giá chứng cứ nên mặc dù số lượng các vụ việc bị phát hiện nhiều nhưng số vụ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử lại hạn chế (chỉ có 89 vụ – 241 bị can, chiếm 3,8% tổng số án ma túy VKSND thành phố thụ lý giải quyết).

1. Một số khó khăn, vướng mắc

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khó khăn trong việc xử lý các đối tượng có hành vi tổ chức trái phép chất ma túy là về căn cứ pháp luật. Tuy diễn biến của loại tội phạm này rất phức tạp, đa dạng nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản hướng dẫn chưa cụ thể, rõ ràng); việc xử lý vẫn dựa trên cơ sở áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII – “Các tội phạm về ma túy” (Thông tư liên tịch số 17/2007); Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của liên ngành trung ương sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007 (Thông tư liên tịch số 08/2015). Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao và VKSND tối cao đã giải đáp một số nội dung liên quan đến tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, hướng dẫn một số khái niệm cơ bản về dấu hiệu “chỉ huy, phân công, điều hành”, “vai trò không đáng kể của người giúp sức”, “hành vi cung cấp”… nhưng đây chỉ là hướng dẫn tạm thời, chưa phải là văn bản pháp lý chính thức nên cần tổng hợp, nâng lên thành văn bản pháp luật.

Việc xác định người nghiện ma túy cũng có vướng mắc do trong một thời gian dài rất ít các bác sĩ, y sĩ ở các cơ sở y tế có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy đáp ứng yêu cầu là được đào tạo, cấp chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy. Xác định các dấu hiệu đặc trưng của người nghiện ma túy đối với những loại ma túy mới cũng rất khó khăn, mất nhiều thời gian.

Một nguyên nhân khác là do còn bất cập trong thu thập tài liệu, dấu vết vật chứng nên nhiều vụ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện có rất đông đối tượng nhưng không thể xử lý hình sự. Việc khám xét, thu giữ vật chứng không kịp thời (các đối tượng đã sử dụng hết ma túy nhưng không thu giữ các dụng cụ sử dụng còn bám dính ma túy để giám định hoặc các đối tượng đã tẩu tán, dọn dẹp sạch sẽ hiện trường, không còn dấu hiệu việc tổ chức sử dụng ma túy). Việc xét nghiệm nhanh các đối tượng sử dụng ma túy chưa được chú trọng, không tiến hành test thử ngay sau khi bắt giữ các đối tượng mà tiến hành trước các hoạt động điều tra khác, nên sau thời gian nhất định cơ thể người sử dụng ma túy đã đào thải chất ma túy dẫn đến kết quả xét nghiệm không chính xác, thiếu khách quan. Trình tự, thủ tục đưa người đi xác định tình trạng nghiện còn rườm rà, chồng chéo; có nhiều đối tượng là người chưa thành niên, phụ nữ có thai không được tiếp nhận vào cơ sở cai nghiện để xác định tình trạng nghiện do chưa có quy định, hướng dẫn về những đối tượng đặc biệt này. Do đó, hầu hết các vụ việc đều phải tạm dừng điều tra xác minh tin báo, chờ hướng dẫn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy diễn ra ngày càng phức tạp trong thời gian qua.

2. Một số kinh nghiệm trong giải quyết vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

2.1. Chủ động nắm bắt, tiếp cận thông tin vụ việc và hồ sơ ban đầu ở giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm

Một trong những đặc trưng của nhóm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có nhiều đối tượng cùng thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng này vừa sử dụng ma túy xong nên trạng thái tinh thần thường không ổn định, việc khai báo ban đầu chưa chính xác. Do đó, khi tiếp cận nội dung vụ việc, Kiểm sát viên (KSV) cần chú ý một số hoạt động cụ thể như sau:

Thứ nhất, xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng bị bắt giữ: Ngay sau khi phát hiện hành vi phạm tội của các đối tượng, Cơ quan điều tra khẩn trương tiến hành xét nghiệm nhanh tình trạng sử dụng ma túy và đưa họ đi xác định tình trạng nghiện tại các cơ sở cai nghiện. Thời gian xác định tình trạng nghiện ma túy khoảng từ 05 – 07 ngày tùy loại ma túy nên khi nghiên cứu hồ sơ ban đầu, KSV cần chú ý các “biên bản đầu vào” được Cơ quan điều tra thiết lập để tránh sai sót, dẫn đến tình trạng tạm giữ hình sự sau trả tự do hoặc xử lý hành chính. Do khoảng thời gian xác định tình trạng nghiện tương đối dài nên đối với những vụ việc bị phát hiện có nhiều hành vi phạm tội, ngoài dấu hiệu tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, còn có dấu hiệu của tội phạm khác (như mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy) thì Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang để sau 24 giờ sẽ tiến hành khởi tố vụ án, đưa các đối tượng liên quan vào tạm giữ hình sự về những hành vi khác trước, chờ có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy sẽ khởi tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” sau. Đối với những vụ việc chỉ có một hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì Cơ quan điều tra sẽ lập biên bản tiếp nhận nguồn tin tố giác về tội phạm để có thời gian chờ kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và thu thập tài liệu chứng cứ khác chứng minh các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội phạm làm căn cứ khởi tố hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, iếp cận thông tin vụ việc nhanh chóng, tổng hợp tài liệu, chứng cứ để đánh giá, phân loại các đối tượng liên quan: Khi nhận được thông tin từ Cơ quan điều tra, tùy tính chất phức tạp của vụ việc, lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp có thể cử một hoặc nhiều KSV phối hợp cùng Điều tra viên (ĐTV) hỏi, ghi lời khai làm rõ hành vi cụ thể của từng đối tượng. Giai đoạn này việc ghi lời khai thuộc trách nhiệm của ĐTV, Cán bộ điều tra. Kiểm sát viên chỉ tham gia hỏi cùng ĐTV, Cán bộ điều tra mà không trực tiếp ghi lời khai của các đối tượng (không có tên trong biên bản điều tra). Cần ghi chép tóm tắt hành vi của từng đối tượng vào sổ tay của mình để tổng hợp, đối chiếu và báo cáo lãnh đạo Viện để phân loại các đối tượng trước khi đưa vào tạm giữ hình sự.

Thứ ba, Kiểm sát viên cần kiểm tra tính khách quan, trung thực trong việc khai báo ban đầu của các đối tượng: Việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thường đông người, các đối tượng có thể quen biết nhau hoặc không. Do vậy, khi nghiên cứu hồ sơ ban đầu, KSV cần chú ý mối quan hệ của những người này để xác định tính khách quan trong việc cung cấp thông tin. Đặc biệt chú ý những nhân viên nữ phục vụ (tại vũ trường, quán bar, karaoke… hoặc được thuê đi sử dụng ma túy cùng), những đối tượng này thường sử dụng tên gọi khác với lý lịch hoặc khai báo có thai. Nếu đối tượng khai có thai thì cần đưa đến cơ sở y tế để khám chuyên khoa, xác định tình trạng sức khỏe trước khi đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy. Khi bị bắt giữ họ thường khai không đúng nhân thân, lai lịch, nơi cư trú nên không thể đưa họ đi xác định tình trạng nghiện, phải tạm cho về hoặc giao cho gia đình quản lý chờ các cơ quan tố tụng giải quyết. Trường hợp này, KSV phải kiểm tra xem lý lịch của các đối tượng đã được chính quyền địa phương xác nhận hay chưa. Nếu đối tượng có địa chỉ ở xa, thì ĐTV tiến hành xác minh qua điện thoại tại nơi đối tượng đăng ký cư trú chưa; tránh tình trạng sau khi cho các đối tượng này về địa phương mới phát hiện đối tượng khai báo không trung thực, gây khó khăn cho hoạt động điều tra.

2.2. Khẩn trương tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng liên quan

Quá trình điều tra ban đầu, KSV cần chú ý đối với những vụ việc Cơ quan điều tra tiếp cận hồ sơ, đối tượng muộn thì việc test thử nước tiểu để xác định tình trạng nghiện ma túy đôi khi không kịp thời và cho kết quả không chính xác bởi các chất ma túy, rượu cồn đào thải thông qua một số bộ phận trên cơ thể người có thời gian khác nhau. Ngoài nước tiểu và máu là những mẫu bệnh phẩm thường được các cơ sở y tế thu để xét nghiệm chất ma túy thì ma túy còn tồn tại trong cơ thể người ở một số cơ quan khác. Do đó, KSV cần yêu cầu ĐTV xác định việc các đối tượng có sử dụng ma túy hay không thông qua một số cách xét nghiệm các mẫu bệnh phẩm khác như máu, lông, tóc…

Để tránh tình trạng nhầm lẫn kết quả xét nghiệm của các đối tượng với nhau hoặc đối tượng chối không sử dụng ma túy hoặc thành phần nước tiểu của họ không có ma túy thì KSV và ĐTV cần tiến hành lập biên bản thu mẫu giám định, tách các đối tượng cần giám định ra khu vực tương đối độc lập với nhau, chụp ảnh lại kết quả giám định với đối tượng cần giám định để đưa vào hồ sơ vụ án và lập biên bản cụ thể về nội dung, kết quả giám định việc sử dụng ma túy cho đối tượng ký đầy đủ, có người làm chứng hoặc đại diện cơ sở y tế.

Đối với các đối tượng sử dụng ma túy là người chưa thành niên, kết quả test nhanh là dương tính với ma túy nhưng lại không thể đưa họ đi xác định tình trạng nghiện ma túy được vì hiện tại các cơ sở cai nghiện không tiếp nhận xác định tình trạng nghiện ma túy đối với các trường hợp là người chưa thành niên. Do đó, thông thường Cơ quan điều tra tiến hành thu thập các lời khai ban đầu, xác định có sử dụng ma túy không, sau đó bàn giao các đối tượng này cho gia đình quản lý, chờ xử lý sau. Bất cập liên quan đến vấn đề này đã được khắc phục khi Luật phòng, chống ma túy sửa đổi, bổ sung năm 2021 được Quốc hội thông qua ngày 30/3/2021, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

2.3. Củng cố tài liệu chứng cứ để xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm

  Trong khoảng thời gian chờ kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của các đối tượng liên quan, ĐTV và KSV cần phải phối hợp tích cực điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định vai trò, các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội phạm của các đối tượng. Hoặc trong những trường hợp có các đối tượng thuộc diện có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ hình sự ngay sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện thì trong khoảng thời gian tối đa 09 ngày (thời hạn tạm giữ và gia hạn thời hạn tạm giữ), ĐTV phải thu thập đầy đủ các chứng cứ để có thể khởi tố bị can hoặc trả tự do cho người bị tạm giữ. Quá trình điều tra chứng minh, cần chú ý các yếu tố sau:

Một là, theo Thông tư liên tịch số 17/2007 quy định hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là hành vi “chỉ huy, phân công, điều hành” các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác như: Chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy… Do đó, dấu hiệu chỉ huy, phân công, điều hành là hành vi khách quan bắt buộc phải có trong cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thực tiễn cho thấy, việc chứng minh yếu tố này gặp nhiều khó khăn, đa số các vụ án đều được phát hiện, bắt quả tang khi các đối tượng tập trung đông người sử dụng chất ma túy (đang sử dụng hoặc vừa sử dụng ma túy xong). Biểu hiện khách quan ban đầu thường là hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, các đối tượng đang trong trạng thái tinh thần chưa minh mẫn (đang ảo giác) nên việc khai báo ban đầu thường chưa chính xác. Do đó, ĐTV phải có chiến thuật hỏi, ghi lời khai và khẩn trương thu thập tài liệu, vật chứng liên quan ngay sau khi phát hiện hành vi phạm tội. Sau thời gian nhất định, tinh thần các đối tượng tỉnh táo hơn thì ĐTV tiến hành ghi lời khai cùng KSV đánh giá chứng cứ, phân loại hành vi của các đối tượng để tìm ra người chủ mưu trong việc tổ chức sử dụng ma túy. Trong đó, ĐTV phải làm rõ ai là người khởi xướng, có việc rủ nhau góp tiền, bàn bạc mua ma túy, tìm địa điểm, rủ thêm người sử dụng ma túy hay không, diễn biến hành vi của các đối tượng khi sử dụng ma túy. Qua đó, ĐTV và KSV sẽ sàng lọc được vai trò của các đối tượng trong vụ án: Ai là người chủ mưu, ai là người thực hành, ai là người giúp sức và ai là người thụ hưởng sử dụng ma túy mà không phải đóng góp hay thực hiện bất kỳ hành vi gì…

Việc chứng minh yếu tố “chỉ huy, phân công, điều hành”, thời gian vừa qua có nhiều vụ việc gặp khó khăn, phức tạp do vậy, Tòa án nhân dân tối cao và VKSND tối cao đã tập hợp và có giải đáp, hướng dẫn. Theo đó, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là những hành vi chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng trái phép chất ma túy như bố trí, sắp xếp con người, phương tiện, dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy để người khác sử dụng”. Hành vi này khác và không đồng nhất với tình tiết “phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”. Yếu tố đồng phạm trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đơn giản hơn, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm trong tình tiết “phạm tội có tổ chức”. Việc chỉ huy, phân công điều hành chỉ là việc bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện, cung cấp chất ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Hai là, hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể “người khác” bằng mọi hình thức đều bị coi là trái phép.

Thực tiễn giải quyết loại án này cho thấy có nhiều quan điểm đánh giá chứng cứ khác nhau để xác định các yếu tố “người khác” hoặc “người thụ hưởng” trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Theo cách hiểu thông thường thì cụm từ “người khác” được hiểu là “cá thể” độc lập với nhau.

Ba là, các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự khi đánh giá, phân loại vai trò các đối tượng phạm tội. Các vụ việc được phát hiện trên địa bàn thành phố Hải Phòng cho thấy, chủ yếu là các nhóm đối tượng tập trung tại các quán karaoke, nhà nghỉ, khách sạn, vũ trường, quán bar… để sử dụng ma túy. Những đối tượng bị bắt giữ thông thường gồm ba nhóm: (1) Khách đến quán sử dụng ma túy (vai trò là người chỉ huy, phân công, điều hành); (2) Nhân viên nữ phục vụ của nhà hàng, hoặc do khách nơi khác đến (vai trò giúp sức); (3) Người quản lý nhà hàng, khách sạn, chủ sở hữu địa điểm các đối tượng sử dụng ma túy (vai trò là người liên quan). Việc phân loại các đối tượng, xác định vai trò chủ mưu, chỉ huy, phân công điều hành, người thực hành, người giúp sức, người thụ hưởng trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý người phạm tội, tránh oan, bỏ lọt tội phạm.

Bên cạnh đó, yếu tố nhân thân của người phạm tội cũng là một trong những yếu tố cần phải làm rõ để làm căn cứ xác định việc người đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Bởi lẽ, theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007 thì nhóm đối tượng là những người nghiện ma túy tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người phạm tội.

Tuy nhiên, trường hợp đối tượng nghiện có địa điểm cho người nghiện khác sử dụng ma túy thì hành vi của người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy sử dụng ma túy tại nơi ở của mình không thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự (điểm b mục 7.3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007) mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thực tiễn xử lý tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ở địa phương cho thấy, bên cạnh trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự trên thì trường hợp “tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy” (không có người thụ hưởng) thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hoặc trường hợp các đối tượng là những người giúp sức có vai trò thứ yếu trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng được xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, quá trình điều tra, ĐTV cần chú ý làm rõ hành vi khách quan, nhân thân của từng nhóm đối tượng trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để cá thể hóa trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính của các đối tượng liên quan.

Hành vi đặc trưng của nhóm khách – chủ thể tội phạm chủ yếu gồm các hành vi bàn bạc, rủ rê việc sử dụng trái phép chất ma túy; phân công việc chuẩn bị ma túy; tìm địa điểm sử dụng ma túy (thuê phòng nghỉ, phòng hát, đặt bàn trong quán bar…); tìm người sử dụng ma túy cùng (gọi thêm người khác) hoặc thuê các nhân viên phục vụ nhà hàng qua trung gian. Những đối tượng thuộc nhóm này hầu hết đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chỉ những đối tượng được rủ đi cùng là bạn bè, người thân được sử dụng ma túy mà không phải đóng góp gì – không đồng phạm thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà tùy từng trường hợp được xác định là người tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Hiện nay, nhóm đối tượng là nhân viên nữ phục vụ gây nhiều quan điểm tranh cãi trong quá trình áp dụng pháp luật tại địa phương. Đối với nhóm đối tượng này, khi được khách đặt vấn đề thuê đi phục vụ (đi hát cùng, đi sử dụng ma túy cùng) và được trả công theo giờ hoặc chủ quán điều động, phân công phục vụ khách đến hát, chứng kiến khách tự lấy hoặc sai đi lấy các dụng cụ như đĩa sứ, bật lửa, thẻ nhựa cứng… để sử dụng ma túy, về ý thức chủ quan, các đối tượng này đều biết việc sử dụng ma túy là trái phép. Quá trình sử dụng ma túy các đối tượng này có hành vi giúp sức (lau đĩa, hơ lửa nóng cho khô đĩa, đảo, xào, kẻ ma túy, bê đĩa ma túy đi mời người khác sử dụng… Như vậy, về hành vi khách quan, các đối tượng này đều có hành vi giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Về nhân thân, các đối tượng này đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, về nguyên tắc, nhóm đối tượng này phải bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, ở địa phương còn có nhiều ý kiến trái chiều về việc xử lý các đối tượng này. Do đó, trong thời gian vừa qua, nhiều đối tượng là nhân viên nữ phục vụ có vai trò không đáng kể trong việc giúp sức cho các đối tượng khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều bị xử lý hành chính, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hải Phòng đã xây dựng quy chế phối hợp về giải quyết các vụ án hình sự với liên ngành các cơ quan tố tụng địa phương, đối với những trường hợp này, các cơ quan tố tụng đều tổ chức họp, đánh giá chứng cứ trước khi phân loại xử lý.

Đối với hành vi cung cấp địa điểm của chủ quán, người quản lý nhà hàng, khách sạn cho các đối tượng khác sử dụng ma túy thì việc chứng minh ý thức chủ quan của những đối tượng này để xác định có tương đồng với nhóm khách tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không là rất khó khăn, bởi đều có dấu hiệu tập trung đông người (thuê phòng nghỉ cho nhiều người, mở nhạc to), hỏi mượn đĩa, thẻ nhựa… (dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy). Đồ dùng, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy không có đặc trưng riêng biệt, các đối tượng sử dụng những đồ dùng, vật dụng thông thường nên việc chứng minh ý thức chủ quan của các đối tượng trong những trường hợp “buộc phải biết” các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy là rất khó và tại địa phương hầu hết không thể xử lý hình sự được những đối tượng này.

2.4. Tăng cường công tác phối hợp

– Đối với Công an cấp xã: Thường xuyên nắm danh sách các đối tượng nghiện ở địa phương đang được giáo dục tại Ủy ban nhân dân cấp xã, các đối tượng được lập hồ sơ để đưa đi cai nghiện bắt buộc. Ngay sau khi phát hiện được hành vi phạm tội của các đối tượng, ĐTV cần khẩn trương thu thập tài liệu làm rõ nhân thân của các đối tượng, từ đó, phân loại các đối tượng, đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy.

– Đối với cơ quan y tế ở địa phương: Trạm trưởng trạm y tế ở địa phương là người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy. Do đó, việc phối hợp với các cơ sở y tế xét nghiệm nhanh kết quả sử dụng ma túy, loại ma túy các đối tượng sử dụng có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng đến việc xem xét xử lý các đối tượng.

– Đối với cơ sở cai nghiện: Phối hợp với cơ sở cai nghiện để kịp thời đưa các đối tượng đi xác định tình trạng nghiện, đơn giản thủ tục hành chính, hồ sơ tài liệu kèm theo là một trong những điều kiện quan trọng hỗ trợ các cơ quan tố tụng điều tra làm rõ hành vi phạm tội của các đối tượng. Đồng thời, việc gặp hỏi, ghi lời khai của những đối tượng này trong thời gian xác định tình trạng nghiện tại các cơ sở cai nghiện cũng cần có sự phối hợp để đảm bảo an toàn cho cán bộ và đối tượng liên quan.

– Đối với liên ngành tư pháp địa phương: Xây dựng quy chế phối hợp giải quyết án hình sự giữa hai cấp các ngành trên địa bàn thành phố nhằm thống nhất thực hiện việc đánh giá chứng cứ, phân loại đối tượng xử lý ở các giai đoạn tố tụng. Đặc biệt, để tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, liên ngành tư pháp địa phương  tiến hành đánh giá chứng cứ trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Viện kiểm sát hai cấp thành phố Hải Phòng luôn thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, tất cả các đơn vị cấp huyện phải kịp thời báo cáo cấp trên trước khi khởi tố những vụ việc phức tạp. Do đó, việc xử lý các vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố không có án trả hồ sơ hoặc đình chỉ do không phạm tội hoặc Tòa án tuyên xử khác tội danh Viện kiểm sát truy tố.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ngày càng cao, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, đề nghị liên ngành tư pháp trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn thay thế Thông tư liên tịch số 17/2007 để có căn cứ pháp luật thống nhất.

Cần hướng dẫn cụ thể về các khái niệm liên quan, dễ gây nhầm lẫn; bổ sung khái niệm “người thụ hưởng là người được tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy mà không phải đóng góp công sức hoặc giá trị vật chất khác”.

Cần quy định rõ hơn, đầy đủ hơn về hành vi “cung cấp chất ma túy” và xác định “bê đĩa ma túy đi mời người khác sử dụng” có phải là hành vi cung cấp chất ma túy hay không.

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong nhóm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bổ sung thêm yếu tố hành vi (trường hợp các đối tượng tổ chức sử dụng ma túy cho nhau mà không có người thụ hưởng) cũng được coi là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

Hai là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cơ quan chuyên môn, đặc biệt là cơ quan y tế trong quá trình điều trị, theo dõi cắt cơn nghiện cần thường xuyên cập nhật các thông tin về các loại ma túy mới, những biểu hiện nghiện của người sử dụng loại ma túy cụ thể để tổng hợp, phổ biến, bổ sung kiến thức cho cán bộ, công chức. Khi giải quyết án đòi hỏi ĐTV, KSV có tinh thần trách nhiệm cao, có kỹ năng làm việc tập thể khoa học, có khả năng tổng hợp, phân loại các đầu việc, phải tiến hành điều tra một cách nhịp nhàng thống nhất, không bị chồng chéo và phải đảm bảo tiến độ. Do đó, cần phải tăng cường công tác đào tạo, rèn luyện kỹ năng giải quyết loại án này cho đội ngũ cán bộ, ĐTV, KSV.

Ngoài ra, cần tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về tác hại của ma túy để người dân hiểu và nâng cao kiến thức phòng, chống ma túy; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chống ma túy./.

Ts. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Xếp hạng
5/5

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest
Share on tumblr

Tư vấn trực tuyến

Bài viết liên quan

Giải đáp thắc mắc

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Giám đốc – Thạc sĩ Luật sư:  Nguyễn Minh Long

Công ty luật chuyên:

Hình sự – Thu hồi nợ – Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.

  • Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy:  Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
  • Văn phòng luật sư quận Long Biên: Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội
  • Điện thoại: 1900 599 979 / 098.301.9109Email: dragonlawfirm@gmail.com

Hệ thống Website:

#luatsubaochua, #luatsutranhtung, #luatsuhinhsu, #luatsugioibaochua, #luatsubaochuahanoi, #luatsubaochuahaiphong

Điều luật tham khảo

Văn bản luật

Thủ tục liên quan đến thuê luật sư

Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án hình sự

Luật hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi các chủ thể này thực hiện tội phạm. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, những người có quyền nhờ luật sư bào chữa bao gồm:

  • Người bị bắt.
  • Người bị tạm giữ.
  • Bị can.
  • Bị cáo.
  • Bị hại.
  • Nguyên đơn dân sự.
  • Bị đơn dân sự.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ngoài những đối tượng trên, theo quy định tại Điều 27 Luật Hình sự năm 2012, người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội cũng có quyền được nhờ luật sư bào chữa cho người bị buộc tội.

Quá trình tố tụng bắt đầu từ giai đoạn điều tra – truy tố – xét xử – thi hành án. Bất kể một cá nhân, đại diện, tổ chức nào ngay khi nhận được giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan điều tra hoặc tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng nêu trên đều có quyền và cần thiết phải nhờ sự hỗ trợ của luật sư.

Tuy nhiên, vì quá trình tố tụng kéo dài đói hỏi người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ phải là người đồng hành cùng thân chủ trong xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do đó, thời điểm tốt nhất để có thể nhờ luật sư bào chữa là ngay khi nhận được giấy triệu tập từ cơ quan điều tra. Vì, khi đó, luật sư có thể can thiệp pháp lý và bảo vệ cho thân chủ ngay từ giai đoạn đầu tiên.

Luật sư hình sự sẽ giúp ích gì cho bạn?

Luật sư hình sự tham gia vào vụ án hình sự trong suốt quá trình tố tụng từ sơ thẩm đến phúc thẩm hoặc có thể trong giai đoạn tái phẩm hoặc giám đốc thẩm với vai trò là người được nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự ủy quyền tham gia vụ án hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ.

Tham gia vào ngay từ giai đoạn xác minh ban đầu, khi có giấy triệu tập và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, luật sư hình sự có những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật để bảo vệ thân chủ. Đây là một trong những quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Đóng vai trò là người bảo vệ cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Vì sao bị can/bi cáo nên nhờ/thuê luật sư hình sự ngay từ ban đầu?

  • Từ khi bị triệu tập, nghi vấn phạm tội: có thể thuê luật sư ngay từ đầu để bảo vệ quyền lợi, có thể bị hình sự hóa trong quan hệ hình sự trong quá trình điều tra xét xử.
  • Giai đoạn tạm giam điều tra: Luật sư tiếp xúc trực tiếp với bị can/thân chủ hỏi cung, đối chất, đề xuất, kiến nghị tới cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu họ thực hiện đúng quy định pháp luật để bảo cho thân chủ.
  • Tham gia bảo vệ (bào chữa) cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, tranh tụng giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Đối với người bị hại thì Luật sư hình sự sẽ giúp ích những gì?

  • Luật sư thu thập chứng cứ
  • Tư vấn pháp luật hình sự cho người bị hại hiểu được hành vi của bi can/bị cáo biết được tội danh mà cơ quan điều tra khởi tố với người phạm tội đã đúng hay chưa
  • Giúp cho người bị hại soạn thảo các đơn từ kiến nghị để việc khởi tố/truy tố đối với bị can gây ra thương tích, gây ra thiệt hại cho người bị hại là “đúng người đúng tội”
  • Vấn đề về bồi thường: Luật sư tư vấn soạn thảo tính toán mức bồi thường để đưa ra yêu cầu xém xét bồi thường.

Tiêu chí để lựa chọn dịch vụ luật sư hình sự là gì?

Thông thường, mọi người có xu hướng lựa chọn luật sư thông qua quen biết vì cho rằng luật sư thông qua quen biết sẽ có độ tín nhiệm cao hơn hoặc là và có thể “nhờ vả” được. vậy đây có phải là một tiêu chí để lựa chọn luật sư?

Theo quy định tại quy tắc số 5 Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ của liên đoàn luật sư Việt Nam về quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thì một trong những quy tắc hành nghề chính là bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng, đây là một trong những quy tắc mà bất kì luật sư nào cũng thuộc nằm lòng.

Hơn nữa, hiện nay cuộc cách mạng cải cách tư pháp đã loại bỏ rất nhiều tiêu cực trong hoạt động tố tụng, quá trình xét xử, theo thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP quá trình xét xử phải được ghi âm ghi hình đảm bảo sự minh bạch rõ ràng tránh những hoạt động, hành vi tiêu cực trong xét xử.

Bất kỳ luật sư nào cũng có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho thân chủ của mình, và quy trình hoạt động tố tụng cũng đã được quy định chặt chẽ hơn, các hoạt động tiêu cực cũng từ đó bị triệt tiêu dần. Do đó, yếu tố người thân người quen không phải là một trong những yếu tố, tiêu chí để lựa chọn luật sư, mà tiêu chí để lựa chọn luật sư bao gồm những tiêu chí sau:

  • Luật sư có chuyên môn trong lĩnh vực hình sự, đây là một yếu tố quan trọng của một luật sư hình sự vì phải hiểu rõ lý luận pháp luật, cập nhật thường xuyên những thay đổi của pháp luật, am hiểu cơ chế hoạt động điều tra thì mới có thể bảo vệ tốt cho thân chủ của mình.
  • Luật sư có kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, trong thực tiễn và tham gia tố tụng trong nhiều vụ án vì càng tham gia nhiều vụ án thì càng tích lũy được nhiều bản lĩnh, kinh nghiệm thâm niên lâu có thể giải quyết được không chỉ những vấn đề pháp luật mà vấn đề quan hệ với các cơ quan tố tụng, cơ quan điều tra.
  • Thấu hiểu hoàn cảnh, động cơ, lý do, hoàn cảnh của thân chủ ví dụ như: do hoàn cảnh khó khăn, do nền tảng gia đình không tốt, do rơi vào tình thế bắt buộc, … từ đó mới xây dựng được phương án, cung cấp dịch vụ tốt nhất cho thân chủ.
  • Chi phí dịch vụ luật sư, tùy vào từng trường hợp, vụ việc cụ thể chi phí luật sư sẽ khác nhau, có những vụ án có tính chất phức tạp, thì ngoài chi phí luật sư còn nhiều chi phí khác như chi phí giám định thương tích thương tật, giám định tự thi, chi phí dựng hiện trường, … Do đó, Tùy vào từng vụ việc cụ thể và hoàn cảnh của thân chủ để đưa ra mức phí phù hợp.

Phí dịch vụ luật sư hình sự được tính như thế nào?

Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư phải thông báo rõ ràng mức thù lao, chi phí cho khách hàng, tuy nhiên, vì tính chất nhạy cảm của vụ án hình sự, chi phí dịch vụ hình sự không giống như các chi phí dịch vụ luật sư khác, không có mức phí cố định, rõ ràng.

Như đã đề cập ở trên, tùy vào từng trường hợp cụ thể của vụ việc mà phí dịch vụ luật sư sẽ khác nhau. Chi phí luật sư trong vụ án hình sự rất phức tạp, tùy vào từng sự việc, luật sư đưa ra mức chi phí cụ thể, do đó, quý khách hàng cần phải gặp trực tiếp với luật sư của công ty luật để có thể trao đổi và đánh giá tính phức tạp của vụ việc mới có thể đưa ra được mức phí phù hợp

Ngoài chi phí dịch vụ luật sư, còn có những khoản phí riêng khác, không nằm trong chi phí dịch vụ luật sư như:

  • Chi phí giám định thương tật
  • Chi phí cho người làm chứng
  • Chi phí bồi thường dân sự

Có cam kết kết quả trong vụ án hình sự không?

Công ty luật Dragon của chúng tôi đảm bảo thực hiện công việc theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và đảm bảo tuân thủ đúng 27 quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội Đồng luật sư toàn quốc.

Công ty chúng tôi luôn đặt quyền lợi khách hàng lên đầu, cam kết giữ bí mật những thông tin liên quan đến khách hàng, đem những hiểu biết, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, sự tận tâm, nhiệt tình của mình đến cho khách hàng.

Trên đây là toàn bộ nội dung bài giới thiệu dịch vụ luật sư hình sự và hướng dẫn cách chọn luật sư hình sự. Quý khách hàng nếu có nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư hình sự của công ty chúng tôi hoặc có thắc mắc về chính sách dịch vụ luật sư của công ty vui lòng liên hệ hotline 098.301.9109 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Luật Dragon nhận hỗ trợ “tư vấn” trực tuyến 24/24 qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: congtyluatdragon@gmail.com
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Dragon
  • CÔNG TY LUẬT DRAGON

    LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG QUÝ KHÁCH!

    TRỤ SỞ CHÍNH CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Add: Phòng 14.6, Tòa nhà Vimeco, Lô 9E, Đường Phạm Hùng, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Tel: 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN LUẬT SƯ TẠI QUẬN LONG BIÊN:

    Add: Số 24 ngách 29 Phố Trạm phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI HẢI PHÒNG:

    Add: Số 102, Lô 14 đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Lâm,Quận Hải An, Hải Phòng.

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI TP HCM:

    Tel : 1900. 599. 979

    =====================

    BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Luật Sư Nguyễn Minh Long

    Điện Thoại: 098.301.9109

    Email: dragonlawfirm@gmail.com

Quy trình giải quyết vụ án hình sự

Từ khóa: thuê luật sư vụ án hình sự,Giá thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư vụ án hình sự,Có nên thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư có được bồi thường,Hợp đồng thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư bào chữa, chi phí thuê luật sư bào chữa

Luật sư bào chữa giỏi tại Hải Phòng

Xã hội càng phát triển, nghề luật sư càng có vai trò quan trọng. Hằng ngày, nhiều tranh chấp, kiện tụng phát sinh và luật sư phải đứng ra tranh đấu để bảo vệ lẽ phải, công lý.

Bảo vệ lẽ phải

Luật sư Nguyễn Minh Long ở Văn phòng luật sư Dragon (Chi nhánh Hải Phòng) đã có gần 10 năm gắn bó với nghề. Giống như nhiều đồng nghiệp khác, công việc trong ngày của anh khá bận rộn và luôn phải di chuyển. Từ việc xếp lịch gặp khách hàng, lịch làm việc tại tòa án, đi thu thập chứng cứ… đều được anh thực hiện một cách cẩn trọng. Nhiều khi các luật sư còn trở thành chuyên gia tâm lý giúp thân chủ và người nhà yên tâm, tin tưởng vào lẽ phải.

Luật sư Long cho biết: “Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ công lý và lẽ phải. Vì vậy, mỗi vụ việc đều phải được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, chính xác, mất nhiều thời gian, công sức. Chỉ cần một sai sót cũng có thể dẫn đến những hậu quả khó lường”.

Giữ tâm trong sáng

Luật sư Long chia sẻ, hơn 10 năm gần đây, xã hội, con người có nhiều thay đổi, phát sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp. Các vụ án liên quan đến kinh tế, hình sự, tranh chấp đất đai, hôn nhân – gia đình xảy ra nhiều hơn, phức tạp hơn. Vì thế, công việc của giới luật sư cũng vất vả gấp nhiều lần. Tuy nhiên, anh quan niệm phải luôn giữ tâm trong sáng để mỗi vụ việc đều được xử lý chính xác, theo đúng pháp luật. Nhiều lúc, các luật sư còn trở thành chuyên gia tư vấn  miễn phí.

Năm 2012, luật sư Long nhận tư vấn thủ tục ly hôn cho một phụ nữ ngoài 50 tuổi ở Quận Hồng Bàng. Do người chồng làm thợ xây nên hay đi nhiều nơi, có quan hệ phức tạp, về nhà thường chửi mắng vợ con. Không chịu nổi tình cảnh này, người vợ quyết định ly hôn. Qua tiếp xúc và tìm hiểu câu chuyện, anh Phán nhận thấy vẫn có cơ hội cứu vãn cuộc hôn nhân này. Bằng vốn kinh nghiệm qua từng vụ án và đời sống thường ngày, anh phân tích, giảng giải để người phụ nữ kia hiểu được điều hơn, thiệt. Lúc đầu, người phụ nữ này không nghe mà cương quyết đưa chồng ra tòa. Tuy nhiên, sau nhiều lần tiếp xúc, động viên, phân giải, họ đã chữa lành được vết thương, bỏ qua những lỗi lầm để hàn gắn trở lại.

Một số người vẫn hay nghĩ luật sư là nghề có nhiều quan hệ, kiếm được nhiều tiền nhưng thực tế những khó khăn, vất vả chỉ có người trong nghề mới hiểu hết. Để có thể trở thành một luật sư phải trải qua một thời gian dài học tập và đào tạo. Theo quy định, ngoài tấm bằng cử nhân, luật sư phải qua lớp đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư, thời gian tập sự và thi qua kỳ thi kết thúc tập sự. Thời gian này tối thiểu là 6 năm hoặc có thể kéo dài hơn. Có người theo đuổi cả chục năm mới trở thành một luật sư.

Luật sư Long cho biết: “Công việc vất vả lắm nhưng thu nhập của anh em luật sư cũng chỉ đủ sống. Nhiều khi gặp trường hợp khó khăn, người cao tuổi, gia đình chính sách, chúng tôi chỉ làm giúp chứ không nhận phí. Gặp người tốt, sau khi tư vấn hay hoàn tất vụ việc thì họ đến có lời cảm ơn. Nhưng cũng có trường hợp mình thấy vấn đề của họ khiếu nại là sai, phân tích để nhận ra lẽ phải thì họ phản ứng ra mặt, thậm chí còn có những lời nói không đúng mực. Dù vậy, chúng tôi vẫn luôn giữ vững cái tâm với nghề”.

Công việc vất vả nên không phải ai cũng gắn bó được với nghề. Vì thế, người trẻ thường ít chọn học luật và đầu tư thời gian, chất xám để trở thành luật sư. Hiện nay, Hải Phòng có hơn 100 luật sư đang hành nghề, trong đó có khoảng 30 người là người cao tuổi, đã nghỉ hưu. Chỉ có tình yêu nghề mới giúp họ gắn bó với nghề luật sư trong thời gian dài. Mặc dù khó khăn là thế nhưng các luật sư như anh Long  luôn tin rằng nghề luật sư sẽ có triển vọng trong tương lai vì góp phần bảo đảm công bằng xã hội.

Văn phòng luật sư Dragon Hải Phòng

Khi nào cần thuê luật sư bào chữa

Thuê luật sư là việc người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị buộc tội, bị can, bị cáo và người thân thích của họ là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà… thuê luật sư bào chữa cho trường hợp của gia đình nhà mình

Vai trò của Luật sư, luật sư tham gia vụ án hình sự với vai trò là người bào chữa, khi thực hiện bào chữa cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong tất cả các giai đoạn từ Điều tra vụ án, khởi tố vụ án, Truy tố vụ án và xét xử vụ án, luật sư sẽ thực hiện các quyền bào chữa để bảo chữa cho các bị can, bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình. Việc luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn này là hết sức cần thiết vì tham gia ngay từ ban đầu sẽ bảo đảm được quyền của người bị bắt cũng như làm sáng tỏ các sự kiện khách quan của vụ án

Thuê luật sư bảo chữa cho bị can khi phạm tội Khi một ai đó có hành vi phạm tội đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan Công an khởi tố vụ án và khởi tố bị can, lúc đó người bị khởi tố trở thành bị can và có quyền mời luật sư bào chữa cho mình để tham gia vào vụ án. Luật sư khi tham gia bào chữa cho bị can sẽ giúp đỡ bị can về mặt pháp luật, sử dụng các biện pháp cần thiết và hợp pháp để bảo vệ bị can. Quá trình bào chữa của luật sư cho bị can từ khi bị mời lên làm việc, khi bị khởi tố tại cơ quan Điều tra, khi bị Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền truy tố bị can bằng Bản cáo trạng và cho đến khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. nói như vậy không có nghĩa là luật sư sẽ chấm dứt tư cách bào chữa cho bị can mà tư cách của bị can được chuyển sang thành tư cách Bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Khi một bị can hay người bị buộc tội bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lúc đó được chuyển sang một tư cách mới là tư cách bị cáo, Luật sư người bào chữa tiếp tục bào chữa cho bị cáo trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án ở giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị cáo có kháng cáo và tiếp tục mời luật sư bào chữa cho mình. Luật sư bào chữa cho bị cáo có những quyền và nghĩa vụ nhất định, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cũng như trao đổi với bị cáo để sao cho bào chữa cho bị cáo được tốt nhất.

Thuê luật sư tham gia vụ án hình sự là trường hợp đã xác định một vụ án hình sự, vụ án có thể hình thành từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành điều tra hoặc có thể vụ án đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành xem xét truy tố ra tòa án và cũng có thể vụ án đã được tòa án chuẩn bị đưa ra xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Luật sư tham gia vào vụ án hình sự sẽ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của người bào chữa để nghiên cứu hồ sơ và bào chữa cho người được bào chữa.

Thuê luật sư bảo vệ cho người bị hại trong vụ án hình sự: Trong vụ án hình sự liên quan đến thiệt hại luật sư sẽ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại, tham gia và các giai đoạn tố tụng tại Cơ quan Điều tra, Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án; sao chụp hồ sơ tài liệu, thu thập chứng cứ và đưa ra cũng như bảo vệ các yêu cầu về bồi thường thiệt hịa cho người bị hại. Trong quá trình tranh tụ tại Tòa án, Luật sư sẽ phát biểu quản điểm luận tội đối với các bị cáo đã gây ra cho bị hại; nếu vụ án cần phải kháng cáo luật sư sẽ giúp bị hại thực hiện việc kháng cáo bản án theo quy định.

Thuê luật sư bào chữa cho người chưa thành niên, người chưa thành niên khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là những người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (14 tuổi) nhưng chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi phạm tội thì bắt buộc phải có luật sư. Thông thường bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp hay người giám hộ sẽ thuê luật sư bào chữa. Trường hợp không thể có điều kiện thuê luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định luật sư bào chữa. Đây là quyền cơ bản của người dưới thành niên để có thể bào chữa cho hộ được tốt nhất.

Luật sư bào chữa để trả hồ sơ điều tra bổ sung là trường hợp luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và vào từng giai đoạn cụ thể có thể là giai đoạn truy tố tại Viện kiểm sát, Luật sư kiến nghị việc trả hồ sơ cho cơ quan Điều tra để tiến hành điều tra bổ sung hoặc sau khi Viện kiểm sát đã quyết định truy tố bằng Bản cáo trạng ra Tòa án có thẩm quyền thì Luật sư kiến nghị Thẩm phán thụ lý vụ án ra Quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tại phiên tòa luật sư bào chữa để Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Giai đoạn mà luật sư có quyền tham gia theo quy định tại Bộ luật TTHS, Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

“a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.”

Bên cạnh đó, Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:

“Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.”

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

“1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Bạn có thể tham khảo thêm nội dung tư vấn áp dụng văn bản pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

1.  Luật sư;

2.  Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

3.  Bào chữa viên nhân dân.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 58 BLTTHS có quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì Luật sư (người bào chữa) có quyền:

1.  Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

2.  Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

3.  Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

4.  Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;

5.  Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

6.  Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

7.  Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

8.  Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

9.  Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

10. Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Thuê luật sư bào chữa hình sự ở Hà Nội

Gọi cho một luật sư chuyên hình sự tại Hà Nội : 1900. 599. 979

Bạn đã bị buộc tội về một tội ác mà bạn đã không phạm phải và tìm kiếm công lý nhanh chóng và không bị tổn thương trong khi duy trì danh dự và nhân phẩm của bạn? Hoặc, có lẽ bạn đã là nạn nhân của một tội ác và tìm kiếm sự trừng phạt hợp pháp đối với những người đã làm hại bạn hoặc gia đình bạn. Bạn thậm chí có thể tự mình phạm tội và mong muốn giải quyết tốt nhất có thể. Bất kể nguyên nhân hay động cơ, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ tạo điều kiện cho công lý nhanh chóng và phù hợp cho các khách hàng tại Hà Nội và Hải Phòng của chúng tôi để họ nhận được phán quyết tốt nhất có thể.

Đó là, nếu bạn đã bị nhà nước buộc tội theo bộ luật hình sự, bắt buộc phải xuất hiện trước cơ quan quản lý hoặc muốn kháng cáo quyết định, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn cung cấp cho bạn sự hài lòng hoàn toàn. Hơn nữa, chúng tôi tính phí trên cơ sở lãi suất cố định để bạn nhận thức đầy đủ về các khoản chi tiêu trước khi chúng tôi thực hiện trường hợp của bạn. Bạn sẽ không bao giờ phải lo lắng về các cáo buộc ẩn hoặc những bất ngờ khó chịu khác trước và sau khi phán quyết được đưa ra.

Hơn nữa, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn bảo vệ bạn một cách trung thực và đạo đức. Chúng tôi sẽ sử dụng mọi phương tiện theo ý của chúng tôi để đảm bảo rằng công lý được đáp ứng và bạn sẽ nhận được phán quyết tốt nhất có thể, đưa ra bằng chứng. Văn phòng luật sư Dragon cũng sẽ tham khảo đầy đủ với bạn về các tùy chọn có sẵn và đề xuất lựa chọn tốt nhất cho nhu cầu duy nhất của bạn. Đó là, chúng tôi luôn đặt lợi ích tốt nhất của bạn lên hàng đầu và sẽ thực hiện các bước chủ động để vượt ra ngoài sự đại diện đơn thuần.

Ví dụ, các luật sư hình sự tại Hà Nội của chúng tôi được yêu cầu đăng ký vào các chương trình sáng kiến ​​giáo dục thường xuyên để họ cập nhật kiến thức hiểu biết hệ thống pháp lý – và tất cả các sắc thái của nó – một cách triệt để. Chúng tôi cũng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ để đảm bảo rằng kiến ​​thức về các đạo luật pháp lý của chúng tôi luôn cập nhật và chính xác.

Do đó, nếu bạn đã bị buộc tội hoặc là nạn nhân của tội phạm, bạn sẽ cần một luật sư pháp lý tốt nhất để đưa ra phán quyết mà bạn mong muốn. Các công tố viên và luật sư hình sự tận tâm, có kinh nghiệm và có trình độ học vấn cao của chúng tôi có một hồ sơ theo dõi thành công đã được chứng minh và có khả năng sẽ tạo điều kiện cho bản án mà bạn và gia đình bạn mong muốn. Hơn nữa, chúng tôi đã xử lý các vụ án hình sự từ rửa tiền đến giết người hàng loạt. Do đó, không có vụ án hình sự nào ở Hà Nội quá tầm thường hay khó khăn đối với các luật sư hình sự tại Văn phòng Luật sư Dragon.

Hãy cho chúng tôi về trường hợp hay vụ việc của bạn

Đại diện tư vấn trực tiếp của chúng tôi luôn sẵn sàng 24/7 để hỗ trợ bạn và có thể lên lịch tư vấn với chuyên gia luật của chúng tôi.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình.

Người bị bắt tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt tạm giữa người bị bắt tạm giữ được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

Người bị bắt tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp có các quyền:

– Được biết lý do mình bị giữ;

– Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự;

– Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

– Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

– Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá và các quyền khác

Người bị bắt tạm giữ có được quyền nhờ luật sư. Theo quy định thì người bị bắt tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bảo chữa cho mình. Nếu nhờ luật sư bào chữa họ có quyền yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ việc liên hệ luật sư để họ có thể nhờ luật sư bào chữa cho mình, ngoài ra họ cũng có các quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.

Người bị bắt theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự thì là bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt theo quyết định truy nã. Khi bị bắt người bị bắt có các nghĩa vụ chấp hành lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền bắt người theo quy định của pháp luật.

Người bị bắt khi bị bắt có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa và một số quyền cơ bản sau:

Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người. Và một số quyền khác.
Khi bị tạm giữ có được thuê luật sư? Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Ngoài các quyền cơ bản được quy định tại Khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc thuê luật sư bào chữa.

Thuê luật sư bào chữa tại Công ty luật Dragon. Vui lòng liên hệ: 1900.599.979

 

Khi chưa khởi tố mà nhận được giấy triệu tập của công an có nên thuê luật sư bào chữa

Tôi có giấy triệu tập của công an thành phố, liên quan đến tội trộm cắp xảy ra do bạn tôi làm đơn, mặc dù tôi khẳng định tôi không liên quan đến sự việc của bạn tôi mất trộm? mất bao nhiêu tiền? mất ở đâu ? như thế nào? bạn ấy làm đơn vu khống cho tôi.. Tôi bị công an gọi điện mời tôi, tôi vì không hiểu pháp luật nên đã ký hợp đồng thuê luật sư bào chữa bảo vệ cho tôi, đến lịch hẹn làm việc theo giấy triệu tập? Luật sư của tôi đi cùng tôi đến xuất trình tại công an điều tra như giấy giới thiệu, đơn mời luật sư bào chữa và thẻ luật sư, nhưng bên công an đã từ chối không cho luật sư bào chữa cho tôi tham gia với lý do, hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố tôi, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc, công an đề nghị tôi và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý? Lúc đấy tôi thấy luật sư bảo tôi cứ làm việc với công an và luật sư bỏ ra về. Tôi rất hoang mang và đã bị sốc nên từ chối không làm việc với công an và xin hẹn buổi khác, tôi có nói với công an là phải có luật sư thì tôi mới làm việc sau đó tôi đi về. Luật sư của tôi không giải thích cho tôi biết lý do và ý kiến của cơ quan điều tra đúng hay sai? Nay tôi nhờ luật sư tư vấn ý kiến của công an như vậy có đúng không? luật sư bảo vệ cho tôi làm như vậy có đúng không? Tôi rất hoang mang khi tìm chọn một công ty luật có uy tín mà lại có một luật sư hành xử như vậy? Rất mong Công ty luật Dragon tư vấn gấp cho tôi.

Phúc đáp yêu cầu tư vấn pháp luật của anh/chị, đề nghị cho ý kiến về một số nội dung pháp lý liên quan đến việc: người bị kiến nghị khởi tố/bị tố giác có được mời Luật sư không, Luật sư Công ty luật Dragon có ý kiến như sau:

*) Đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Theo như trình bày thì anh/chị đang bị tố giác về hành vi trộm cắp tài sản. Khoản 1 Điều 83 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác là người được người bị tố giác nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Luật sư là một trong những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác (điểm a khoản 2 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, anh/chị có quyền mời Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay từ khi bị tố giác (từ khi chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can).

Khoản 1 Điều 27 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012) quy định: “Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật này”.

Bộ Luật Tố tụng hình sự không quy định rõ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác phải xuất trình những giấy tờ gì khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm làm việc thực tế của Luật sư và quy định tại điểm a khoản 2 Điều 78 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì những giấy tờ Luật sư cần xuất trình khi làm việc với Cơ quan CSĐT là: Giấy giới thiệu của công ty luật cử luật sư đến cơ quan điều tra làm việc, Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu đơn mời luật sư của người bị tố giác ( anh chị cũng như Luật sư không phải xuất trình Hợp đồng dịch vụ pháp lý).

Như vậy, việc công an từ chối không cho luật sư tham gia với lý do: hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố bị can, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc và đề nghị anh và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý là vi phạm tố tụng.

*) Quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Khoản 3 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác có quyền:

  1. a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  2. b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
  3. c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
  4. d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Luật sư bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh/chị không đưa ra ý kiến nào và bỏ về khi bị công an từ chối là không thực hiện quyền của mình theo quy định trên. Không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho khách hàng. Việc anh/chị từ chối không làm việc với công an, xin hẹn buổi khác và nói với công an là phải có luật sư bào chữa cho anh/chị thì anh/ chị mới làm việc với cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật.

Trên đây là quan điểm ý kiến của Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Minh Long Giám đốc Công ty Luật Dragon – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội về nội dung vụ viêcj trên.

Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với Luật sư Hà Nội và Luật sư Hải Phòng theo địa chỉ dưới đây.

  1. Trụ sở chính Công ty Luật Dragon tại quận Cầu Giấy:  Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  2. VPĐD luật sư Công ty luật Dragon tại quận Long Biên: Số 24 Ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Tp Hà Nội.
  3. Chi nhánh Công ty Luật Dragon tại Hải Phòng: Phòng 6 tầng 4 Tòa Nhà Khánh Hội, đường Lê Hồng Phong, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.

Công ty Luật Dragon cung cấp biểu phí và thù lao luật sư bào chữa tham khảo tại đây

Trân trọng!

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Luật sư chuyên bào chữa vụ án hình sự

ĐIỀU LUẬT

ÁN LỆ