1900599979

1. Khái niệm luật sư và thẩm quyền công nhận luật sư theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới

Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư. Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là luật sư. Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là: a) Là công dân ở nước sở tại; b) Có bằng cử nhân luật; c) Có phẩm chất đạo đức tốt.

Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư, điều đó còn phụ thuộc vào quy định pháp luật mỗi nước.

Thẩm quyền công nhận có thể là Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư. Căn cứ vào pháp luật của các nước trên thế giới quy định về tiêu chuẩn luật sư và thẩm quyền công nhận luật sư có thể phân được thành các nhóm sau đây:

Thứ nhất, qua một kỳ thi quốc gia mà không phải qua đào tạo nghề và tập sự hành nghề luật sư. Hoa Kỳ là nước quy định theo chiều hướng này. Muốn trở thành luật sư phải qua một kỳ thi để công nhận là luật sư (Bar examination). Toà án bang là cơ quan có thẩm quyền công nhận và cho phép hành nghề luật sư. Người xin được công nhận luật sư phải tuyên thệ trước Toà án tại một phiên toà xét xử công khai. Toà án sẽ chứng nhận lời tuyên thệ của người xin công nhận luật sư và ghi tên người đó vào danh sách luật sư. Danh sách này được đăng ký tại phòng hành chính của Toà án.

Thứ hai, phải qua đào tạo nghề, nhưng không phải qua tập sự hành nghề luật sư. ở Nhật Bản, người muốn trở thành luật sư, trước hết phải thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia và hoàn thành chương trình đào tạo 18 tháng tại Học viện Tư pháp. Theo quy định của Luật về Luật sư Nhật Bản, người muốn hành nghề luật sư phải đăng ký tên vào danh sách luật sư lưu giữ tại Liên đoàn luật sư Nhật Bản. Việc đăng ký tên vào danh sách luật sư của Liên đoàn luật sư Nhật Bản được thực hiện thông qua Đoàn luật sư địa phương, nơi luật sư dự định gia nhập.

Thứ ba, phải qua hai giai đoạn đào tạo nghề. ở Anh muốn trở thành luật sư tư vấn hoặc luật sư tranh tụng đều phải qua đào tạo hành nghề 1 năm tại cơ sở đào tạo của Hiệp hội luật sư hoặc Đoàn luật sư và đào tạo kỹ năng hành nghề thực tế tại hãng luật hoặc văn phòng luật sư.

Những người có đủ điều kiện trên có thể nộp đơn cho Hiệp hội luật sư để xin công nhận là luật sư tư vấn. Nếu xét thấy người nộp đơn đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, Hiệp hội luật sư cấp giấy công nhận là luật sư tư vấn cho người đó.

Việc công nhận luật sư biện hộ do một hội đồng của Đoàn luật sư thực hiện. Sau khi được công nhận luật sư biện hộ, phải ghi tên mình vào danh sách luật sư biện hộ tại một Tòa án và danh sách này do Toà án tối cao quản lý và được lưu giữ tại Đoàn luật sư. Để được phép hành nghề luật sư biện hộ phải tuyên thệ tại Toà án nơi họ hành nghề.

Thứ tư, phải qua đào tạo nghề và tập sự hành nghề luật sư. ở Pháp, muốn trở thành luật sư phải qua một khóa đào tạo nghề và sau đó phải tập sự hành nghề luật sư. Trong thời gian tập sự hành nghề, luật sư tập sự được quyền hành nghề như luật sư chính thức. Kết thúc tập sự được cấp giấy chứng nhận hoàn thành tập sự, nhưng không phải thi hết tập sự. Sau đó đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư trở thành luật sư. Trước khi trở thành luật sư phải tuyên thệ trước một Tòa án.

Thứ năm, có thể lựa chọn giữa đào tạo nghề  hoặc thực tập hành nghề luật sư. ở Australia (bang Victoria) quy định muốn trở thành luật sư, thì phải qua khóa đào tạo nghề với thời gian học là 7 tháng hoặc phải qua thực tập hành nghề luật sư tại một tổ chức hành nghề luật sư với thời gian là một năm. Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo hoặc chứng nhận thời gian thực tập hành nghề một năm, các ứng viên sẽ được Tòa án tối cao bang công nhận luật sư.

Thứ sáu, phải qua một kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn luật sư và tập sự hành nghề. Theo quy định của Luật về Luật sư của Trung Quốc, muốn được hành nghề luật sư phải có đủ tiêu chuẩn luật sư (shall acquire qualification as lawyer) và có chứng chỉ hành nghề luật sư (practice certificate).

Người muốn được công nhận là đủ tiêu chuẩn luật sư phải thi đỗ kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn (khả năng hành nghề) luật sư được tổ chức mỗi năm một lần. Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức kỳ thi này và thực hiện việc công nhận đủ tiêu chuẩn (khả năng hành nghề) luật sư cho những người thi đỗ.

Chứng chỉ hành nghề luật sư được cấp cho những người tán thành Hiến pháp nước CHND Trung Hoa và đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây: a) Đã được công nhận đủ tiêu chuẩn (khả năng hành nghề) luật sư; b) Đã qua thời gian tập sự hành nghề 1 năm tại một Văn phòng luật sư; c) Có phẩm chất đạo đức tốt. Chứng chỉ hành nghề luật sư do Sở Tư pháp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương cấp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

Thứ bảy, phải qua hai kỳ thi. Theo quy định của Quy chế luật sư Cộng hòa Liên bang Đức, người muốn trở thành luật sư phải đỗ 2 kỳ thi quốc gia về luật theo quy định của các bang. Trong đó, kỳ thi quốc gia về luật lần thứ nhất là kỳ thi kết thúc khoá học luật tại trường đại học, còn kỳ thi thứ hai sẽ do Bộ Tư pháp của mỗi bang tổ chức.

Việc cấp giấy phép hành nghề luật sư cũng như quản lý hoạt động luật sư thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp mỗi bang. Người muốn hành nghề luật sư phải nộp đơn xin hành nghề luật sư và nộp tại Bộ Tư pháp bang nơi họ thường trú. Tại một số bang thì Đoàn luật sư địa phương được Bộ Tư pháp uỷ quyền về việc xem xét đơn xin làm luật sư và cho phép làm luật sư tại một Toà án nhất định. Đoàn luật sư địa phương là Đoàn luật sư nơi mà người làm đơn xin phép hành nghề và tại nơi mà văn phòng luật sư sẽ được thành lập.

Qua phân tích quy định pháp luật về luật sư của một số nước trên thế giới có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

– Khái niệm luật sư được hiểu là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận là luật sư.

– Về tiêu chuẩn trở thành luật sư, pháp luật các nước rất chú trọng đến tiêu chuẩn về trình độ. Tuy nhiên, việc xác định trình độ của một người muốn trở thành luật sư thì được đánh giá bằng việc thi quốc gia hoặc thông qua khóa đào tạo nghề. Về tập sự hành nghề luật sư, thì rất ít nước quy định hoặc quy định nhưng mang tính hình thức, có nghĩa là sau kỳ tập sư không phải kiểm tra hoặc trong thời gian tập sự vẫn được hành nghề như luật sư chính thức. Ngoài ra, còn cho phép người muốn trở thành luật sư có quyền lựa chọn một trong các hình thức là qua đào tạo nghề hoặc qua thực tập nghề luật sư.

 – Tòa án tối cao hoặc Bộ Tư pháp là cơ quan có thẩm quyền công nhận luật sư. Một số nước lại quy định người có đủ tiêu chuẩn luật sư muốn trở thành luật sư phải đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư.

2. Khái niệm luật sư và thẩm quyền công nhận luật sư theo quy định của pháp luật Việt Nam

Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 không đưa ra một định nghĩa về luật sư, mà chỉ quy định muốn làm luật sư thì phải đủ điều kiện và gia nhập Đoàn luật sư. Việc gia nhập Đoàn luật sư phải được Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua theo đề nghị của Ban chủ nhiệm. Người mới gia nhập Đoàn luật sư phải qua một thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm và một kỳ kiểm tra do Đoàn luật sư tổ chức, mới được công nhận là luật sư. Luật sư tập sự được bào chữa và làm các việc giúp đỡ pháp lý khác như luật sư. (Điều 12 Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987).

Người được công nhận là luật sư được cấp thẻ luật sư. Thẻ luật sư do Ban chủ nhiệm cấp cho các luật sư (điểm 4 Mục II Thông tư 313-TT/LS ngày 15/4/1989 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Quy chế Đoàn luật sư). Chỉ được sử dụng thẻ luật sư trong khi thực hiện các nhiệm vụ do Ban chủ nhiệm phân công và trong sinh hoạt của Đoàn, không được sử dụng vào việc khác. Thẻ luật sư do Bộ Tư pháp thống nhất phát hành và quản lý việc sử dụng.

Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư thì một người muốn được công nhận là luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư. Thẩm quyền công nhận luật sư hay thẩm quyền chấp nhận gia nhập Đoàn luật sư thuộc Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư. Thẻ luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư và được sử dụng trong hành nghề và trong sinh hoạt của Đoàn luật sư.

Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001, khái niệm luật sư mới được đặt ra. Vì tên gọi là Pháp lệnh Luật sư, cho nên khái niệm luật sư là vấn đề được thảo luận rất sôi nổi trong quá trình soạn thảo Pháp lệnh. Các ý kiến đều tập trung xung quanh nội hàm của khái niệm, cơ quan soạn thảo cũng đưa ra nhiều phương án xử lý, tuy nhiên vẫn còn có ý kiến khác nhau. Việc đưa ra khái niệm luật sư trong Pháp lệnh là có phần khó khăn, hơn nữa, có tính học thuật, dễ gây tranh luận và nhiều ý kiến cũng thừa nhận điều đó. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa luật sư chỉ mang tính quy ước, quy định để hiểu một cách thống nhất. Vì vậy, quy định về luật sư trong Pháp lệnh Luật sư chủ yếu để đưa ra cách hiểu thuật ngữ chứ không hàm ý đưa ra khái niệm.

Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư (Điều 1 Pháp lệnh Luật sư). Người muốn hành nghề luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư và có Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 7 Pháp lệnh Luật sư) mà không quy định về tiêu chuẩn luật sư, thủ tục và thẩm quyền công nhận luật sư. Người được gia nhập Đoàn luật sư, để trở thành luật sư phải qua tập sư và kỳ kiểm tra hết tập sự và nếu đạt yêu cầu thì được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 13 Pháp lệnh Luật sư). Kỳ kiểm tra hết tập sự do Bộ Tư pháp tổ chức.

Khoản 4 Điều 13 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định: “Người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được hành nghề với đầy đủ các quyền nghĩa vụ của luật sư”, trong đó có quyền hành nghề luật sư, bởi vì theo quy định Điều 15 “Quyền và nghĩa vụ của luật sư” của Pháp lệnh Luật sư thì  luật sư có quyền: a) Lựa chọn lĩnh vực hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này; b) Thành lập Văn phòng luật sư hoặc Công ty hợp danh; c)Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng và Pháp lệnh này; d) Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Điều 20 Pháp lệnh Luật sư, trong hồ sơ đăng ký thành lập Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hợp danh chỉ cần bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư mà không yêu cầu Thẻ luật sư. Từ đó có thể hiểu, một người trở thành luật sư từ thời điểm được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư hay nói một cách khác, luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề do Bộ Tư pháp cấp.

Điều 34 “Thành viên của Đoàn luật sư” của Pháp lệnh Luật sư quy định: “Luật sư đã tham gia Đoàn luật sư là thành viên của Đoàn luật sư. Quyền, nghĩa vụ của thành viên Đoàn luật sư trong quan hệ nội bộ Đoàn luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định”. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề được quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh Luật sư, còn quyền và nghĩa vụ của luật sư với tư cách thành viên Đoàn luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định.

Theo quy định Điều 29 của Nghị định 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật sư thì thành viên của các Đoàn luật sư là các luật sư và được Ban chủ nhiệm cấp Thẻ luật sư theo mẫu thống nhất do Bộ Tư pháp phát hành. Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành viên Đoàn luật sư của người được cấp thẻ. Thủ tục cấp và sử dụng Thẻ luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định (Thông tư số 02/2002 TT/BTP ngày 22/1/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định 94/2001/NĐ-CP).

Như vậy, Chứng chỉ hành nghề do Bộ Tư pháp cấp là giấy tờ xác nhận tư cách luật sư, là giấy chứng nhận của Nhà nước về quyền hành nghề luật sư của người được cấp Chứng chỉ. Thẻ luật sư là giấy chứng nhận tư cách thành viên Đoàn luật sư của người được cấp Thẻ.

Tóm lại, theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thì luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Chứng chỉ hành nghề luật sư là giấy tờ chứng minh một người là luật sư và luật sư sử dụng khi hành nghề. Thành viên Đoàn luật sư là các luật sư được Ban chủ nhiệm cấp Thẻ luật sư. Thẻ luật sư được sử dụng trong sinh hoạt Đoàn luật sư. Pháp lệnh Luật sư quy định tương đối rõ địa vị pháp lý của người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và người được cấp Thẻ luật sư.

Khái niệm luật sư vẫn tiếp tục được quy định tại Điều 2 của Luật Luật sư và cụ thể như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).

Tiêu chuẩn luật sư là một điểm mới của Luật Luật sư. Điều 10 Luật Luật sư quy định về tiêu chuẩn luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”.

Về điều kiện hành nghề luật sư, nếu như Pháp lệnh Luật sư năm 2001 (Điều 7) quy định: “Người muốn hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư và có Chứng chỉ hành nghề luật sư” thì nay Luật Luật sư (Điều 11) quy định một chu trình ngược lại là: “Muốn hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư”.

Theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, về khái niệm luật sư có nhiều cách hiểu khác nhau và có thể chia thành ba quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định của Điều 2 Luật Luật sư thì có thể hiểu luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng.

Quan điểm thứ hai cho rằng, khái niệm luật sư và điều kiện hành nghề luật sư có nội dung trùng nhau và đề nghị quy định khái niệm luật sư theo hướng luật sư là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề. Tham gia vào Đoàn luật sư hay không là quyền của luật sư. Đoàn luật sư là tổ chức xã hội nghề nghiệp, do đó việc tham gia Đoàn luật sư là tự nguyện. Khi luật sư đủ tiêu chuẩn theo luật định, được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì có quyền hành nghề và đăng ký hoạt động mà không nhất thiết phải có một điều kiện nữa là gia nhập một Đoàn luật sư. Theo quan điểm này thì luật sư là người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Điều 10 Luật Luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

Quan điểm thứ ba cho rằng, một người được công nhận là luật sư khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, cụ thể là được cấp Chứng chỉ hành nghề và Thẻ luật sư, do đó khi một người được cấp Chứng chỉ hành nghề thì chưa phải là luật sư.

Như vậy, Luật Luật sư đưa ra quy định về khái niệm luật sư (Điều 2 Luật Luật sư), tiêu chuẩn luật sư (Điều 10 Luật Luật sư) và điều kiện hành nghề luật sư (Điều 11 Luật Luật sư), nhưng lại không xác định cơ quan hay tổ chức nào có thẩm quyền công nhận một người là luật sư, cũng như thời điểm nào một người được công nhận là luật sư và giấy tờ gì chứng minh một người là luật sư.

Theo quan điểm thứ nhất, thì có thể dù có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư thì không được gọi là luật sư. Chỉ được gọi là luật sư khi một người có Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Thực tế hiện nay, có một số người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng họ không hành nghề trong Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hoặc hành nghề với tư cách cá nhân, thì không thể nói rằng, họ không phải là luật sư. Với nội dung quy định của Điều 2 Luật Luật sư thì tên điều này phải là “Hành nghề luật sư” hay “Hoạt động luật sư” mới đúng. Trong một số đạo luật như Luật Công chứng, Luật Trợ giúp pháp lý hoặc dự thảo Luật Giám định tư pháp có  quy định một điều luật về hoạt động và một điều luật về tiêu chuẩn (khái niệm) ví dụ như Điều 2 “Công chứng” và Điều 7 “Công chứng viên” của Luật Công chứng, Điều 3 “Trợ giúp pháp lý” và Điều 21 “Trợ giúp viên pháp lý” của Luật Trợ giúp pháp lý, Điều 1 “Giám định tư pháp” và Điều 8 “Giám định viên tư pháp” của dự thảo Luật Giám định tư pháp.

Theo quan điểm thứ hai, thì có thể hiểu luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Kể từ thời điểm có Chứng chỉ hành nghề luật sư, thì người có Chứng chỉ hành nghề luật sư được gọi là luật sư. Tuy nhiên, trong Luật Luật sư không có một quy định nào xác nhận người có Chứng chỉ hành nghề luật sư là luật sư. Nếu như Pháp lệnh Luật sư quy định trong hồ sơ đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư, Công ty luật chỉ yêu cầu bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 20), thì nay theo quy định của Luật Luật sư, ngoài bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, còn yêu cầu cả bản sao Thẻ luật sư (Điều 35).

Theo quan điểm thứ ba, thì luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư, có nghĩa là được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư thì mới được gọi là luật sư. Và như vậy giấy tờ xác nhận một người là luật sư là Thẻ luật sư, bởi vì, phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư thì mới được gia nhập Đoàn luật sư và mới được cấp Thẻ luật sư. Tuy nhiên, trong Luật Luật sư cũng không có một quy định nào xác định thời điểm một người là luật sư khi có Thẻ luật sư, mà chỉ có quy định thành viên Đoàn luật sư là các luật sư (Điều 60 Luật Luật sư).

Từ góc nhìn khác, một vấn đề đặt ra là luật sư có trước hay Đoàn luật sư có trước. Nếu theo quan điểm luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và có trước Đoàn luật sư. Điều này cũng phù hợp với Điều 60 Luật Luật sư quy định: “Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi có từ ba người có Chứng chỉ hành nghề luật sư trở lên thì được thành lập Đoàn luật sư. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phép thành lập Đoàn luật sư sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp”. Điều 32 Pháp lệnh Luật sư còn quy định rõ hơn như sau: “Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi có từ ba luật sư trở lên thì được thành lập Đoàn luật sư”.

Nếu theo quan điểm Đoàn luật sư có trước và muốn trở thành luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư. Với cách hiểu này sẽ mâu thuẫn với khoản 2 Điều 60 Luật Luật sư là khi có từ 3 người có Chứng chỉ hành nghề trở lên thì được thành lập Đoàn luật sư. Như vậy, sau khi thành lập xong Đoàn luật sư thì những người có Chứng chỉ hành nghề này đã là luật sư chưa và nếu chưa thì họ  phải làm thủ tục gia nhập Đoàn luật sư. Vậy ai sẽ là làm thủ tục đăng ký gia nhập Đoàn luật sư cho họ. Thời điểm này Đoàn luật sư chưa có luật sư. Hay là những người sáng lập viên này (người có Chứng chỉ hành nghề luật sư) đương nhiên trở thành luật sư mà không cần làm thủ tục gia nhập Đoàn luật sư? Quy định này cũng tương tự như quy định về việc thành lập Đoàn luật sư của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987.

Hiện nay có một tình trạng là số người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư nhiều hơn số người được cấp Thẻ luật sư, bởi vì có nhiều người đã được Bộ tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, nhưng không gia nhập Đoàn luật sư vì nhiều lý do khác nhau. Những người này tuy có đủ tiêu chuẩn luật sư, đủ khả năng hành nghề luật sư, nhưng lại chưa được mang danh luật sư và chưa được công nhận là luật sư, vì chưa gia nhập Đoàn luật sư.

Chúng tôi đồng ý với quan điểm của luật sư Nguyễn Văn Thảo cho rằng, “ý nghĩa của “Chứng chỉ hành nghề luật sư” là không rõ ràng và có điểm chưa hợp lý, cụ thể là: “Về hình thức, tên gọi “Chứng chỉ hành nghề luật sư’’ là chưa chính xác, bởi vì xét về ngữ nghĩa thì người được cấp chứng chỉ này phải được phép hành nghề luật sư; tuy nhiên theo quy định của Luật Luật sư, thì Chứng chỉ hành nghề luật sư chỉ là một trong những điều kiện để được phép hành nghề luật sư; khi đã có Chứng chỉ hành nghề luật sư còn phải gia nhập Đoàn luật sư và được Liên đoàn luật sư cấp Thẻ luật sư thì mới được phép hành nghề luật sư”(1).

Về Thẻ luật sư, luật sư Nguyễn Văn Thảo cho rằng: “Thẻ luật sư do Liên đoàn luật sư cấp vừa có ý nghĩa công nhận luật sư, vừa là giấy phép hành nghề luật sư, bởi vì chỉ khi một người đã được cấp Thẻ luật sư thì người đó mới được mang danh luật sư và được hành nghề luật sư; trong hoạt động hành nghề luật sư chỉ cần xuất trình Thẻ luật sư là đủ, mà không phải xuất trình Chứng chỉ hành nghề luật sư. Điều lệ Liên đoàn luật sư lại quy định Thẻ luật sư “là giấy chứng nhận tư cách thành viên của Đoàn luật sư và thành viên của Liên đoàn luật sư”. Như vậy, Thẻ luật sư vừa làm chức năng là thẻ hội viên, vừa có ý nghĩa là giấy tờ công nhận luật sư và cho phép hành nghề luật sư”(2).

Cần có sự phân biệt ý nghĩa của “Chứng chỉ hành nghề luật sư” với “Thẻ luật sư”. Chứng chỉ hành nghề luật sư là giấy tờ (văn bản của cơ quan nhà nước) cấp cho người có đủ tiêu chuẩn luật sư, công nhận tư cách luật sư của người được cấp Chứng chỉ. Còn Thẻ luật sư là thẻ hội viên, là giấy tờ xác nhận tư cách thành viên của Đoàn luật sư, thành viên của Liên đoàn luật sư, nó không thể là văn bản xác nhận tư cách, công nhận luật sư và lại càng không phải là giấy phép hành nghề luật sư. Thẻ luật sư chỉ có một chức năng duy nhất xác định tư cách thành viên Đoàn luật sư và Liên đoàn luật sư. Vì vậy không thể nói rằng, Thẻ luật sư vừa có ý nghĩa công nhận luật sư, vừa là giấy phép hành nghề luật sư. Mặc dù Thẻ luật sư được cấp sau Chứng chỉ hành nghề luật sư, nhưng không vì thế nó phủ nhận giá trị của Chứng chỉ hành nghề luật sư. Một người có thể bị xóa tên khỏi Đoàn luật sư, nhưng không vì thế mà bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư. Ví dụ một người được tuyển dụng vào làm việc cho cơ quan nhà nước thì sẽ thôi không được làm luật sư. Trong trường hợp này có nên đặt vấn đề thu hồi Chứng chỉ hành nghề của họ hay không?

Theo chúng tôi, trên thế giới hầu như không có nước nào quy định muốn hành nghề luật sư phải qua hai giai đoạn là được công nhận là luật sư và được cấp phép hành nghề luật sư. Vì vậy, không nên đặt vấn đề là Bộ Tư pháp công nhận luật sư, còn Liên đoàn luật cấp phép hành nghề hoặc ngược lại là Liên đoàn luật công nhận luật sư, còn Bộ Tư pháp cấp phép hành nghề. Các nước trên thế giới quy định chỉ cần được cơ quan có thẩm quyền (Tòa án hoặc Bộ Tư pháp) công nhận là luật sư thì được phép (có quyền) hành nghề luật sư hoặc đăng ký gia nhập Đoàn luật sư là được phép (có quyền) hành nghề luật sư. Cần phải hiểu rằng có Chứng chỉ hành nghề luật sư là đồng nghĩa với việc được công nhận luật sư và có quyền hành nghề luật sư, mà không cần một cơ quan hoặc tổ chức nào cấp phép hành nghề luật sư. Điều này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về một số ngành nghề yêu cầu phải có Chứng chỉ hành nghề như kiểm toán, kế toán, khám chữa bệnh… hoặc phải được bổ nhiệm hoặc công nhận như công chứng viên, trợ giúp viên pháp lý, giám định viên… Vì vậy, không cần quy định thêm một điều kiện hành nghề là phải gia nhập một Đoàn luật sư (Điều 11 Luật Luật sư). Việc gia nhập Đoàn luật sư không nên xem là điều kiện hành nghề, mà cần xem đó là nghĩa vụ của luật sư khi hành nghề, nó cũng giống như nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư. Một số tiểu bang của Mỹ không quy định bắt buộc luật sư phải gia nhập Đoàn luật sư, Hội luật sư liên bang Mỹ mà xem đó là quyền của luật sư.

Liên quan đến vấn đề gia nhập Đoàn luật sư, một vấn đề đặt ra là tại sao Luật Luật sư lại không quy định luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không phải gia nhập Đoàn luật sư và Liên đoàn luật sư Việt Nam. Khi hành nghề luật sư nước ngoài có phải tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam không?

3. Kết luận

Trong ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta thường gặp thuật ngữ “hành nghề luật sư”, “nghề luật sư”. Thực ra như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ, bởi vì “luật sư” là danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ nghề. Theo thói quen trong việc sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như văn viết thì thuật ngữ “nghề luật sư” có thể chấp nhận được, cũng như thuật ngữ “nghề kiến trúc sư”, “nghề bác sĩ” hoặc “nghề giáo viên”… Trong tiếng Anh có thể dịch “lawyer” là luật sư và “practice of law” là hành nghề luật sư hoặc hành nghề luật. Tuy nhiên, thuật ngữ “nghề luật” và “hành nghề luật” thì sẽ được hiểu rộng hơn “nghề luật sư” và “hành nghề luật sư”, bởi vì, nghề thẩm phán, nghề công tố… cũng có thể được hiểu là nghề luật.

Theo chúng tôi, nên hiểu luật sư là danh từ chỉ người được công nhận là luật sư khi có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và hành nghề luật sư là việc luật sư được làm những việc theo chuyên môn, nghề nghiệp của mình đã được pháp luật quy định. Còn nghề luật sư là nói đến một nghề trong xã hội, nghề của những người được công nhận là luật sư. Nói đến nghề luật sư là nói đến cái chung, còn nói đến luật sư là nói đến cái cụ thể, đến con người cụ thể, đến chức danh cụ thể. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào pháp luật và tính truyền thống của từng nước mà khái niệm, tiêu chuẩn luật sư và điều kiện, phạm vi hành nghề luật sư, cũng như thủ tục, thẩm quyền công nhận luật sư được quy định khác nhau.

Vậy vấn đề được đặt ra là luật sư là ai và ai có thẩm quyền công nhận luật sư, giấy tờ gì chứng minh một người là luật sư, luật sư có trước hay Đoàn luật sư có trước? Theo chúng tôi, luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được công nhận luật sư. Khi được công nhận luật sư thì người đó có quyền hành nghề luật sư. Chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp là giấy tờ công nhận một người là luật sư.

Theo quy định của Luật Luật sư, thì Chứng chỉ hành nghề luật sư không phải giấy tờ công nhận luật sư và quyền hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư. Còn Thẻ luật sư theo quy định của Luật luật sư thì có thể hiểu có Thẻ luật sư thì mới được hành nghề luật sư, được mang danh luật sư. Thẻ luật sư còn có ý nghĩa xác nhận tư cách thành viên của Đoàn luật sư và Liên đoàn luật sư. Tuy nhiên, muốn được cấp Thẻ luật sư thì phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư. Trong Luật Luật sư năm 2006 cũng không quy định rõ luật sư có trước hay Đoàn luật sư có truớc. Cần phân biệt khái niệm luật sư với tư cách là người hội đủ tiêu chuẩn luật sư được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Khi đã được công nhận là luật sư thì có quyền hành nghề luật sư. Còn khi tham gia Đoàn luật sư và Liên đoàn luật sư thì với tư cách là thành viên của Đoàn luật sư và Liên đoàn luật sư. Chức danh luật sư được công nhận có ý nghĩ gắn liền với nhân thân của người đó, cũng như nhiều chức danh nghề nghiệp khác trong xã hội. Luật sư chỉ bị tước chức danh luật sư bởi cơ quan có thẩm quyền đã công nhận nó, nếu luật sư không còn hội đủ các tiêu chuẩn luật sư.

Vì vậy, để giải quyết những bất hợp lý nêu trên, chúng tôi cho rằng, khái niệm luật sư cần được hiểu luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư do cơ quan có thẩm quyền cấp. Người muốn được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư phải tham gia một kỳ thi cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Để được tham gia kỳ thi cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư cần phải có các tiêu chuẩn sau đây: a) Có quốc tịch Việt Nam; b) Có bằng cử nhân luật; c) Có chứng nhận đào tạo nghề luật sư và qua thời gian tập sự hành nghề luật sư (việc đào tạo nghề và tập sự hành nghề luật sư có thể nhập lại thành một giai đoạn). Từ đó, chúng tôi đề xuất ba phương án sau đây về thủ tục và thẩm quyền công nhận luật sư:

Phương án thứ nhất, Bộ Tư pháp tổ chức kỳ thi và cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Những người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư được công nhận là luật sư. Đối với luật sư muốn hành nghề trong các Văn phòng luật sư, Công ty luật (hành nghề tự do) có nghĩa vụ đăng ký gia nhập Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư. Đối với luật sư làm việc cho các cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp (in house lawyer) thì không bắt buộc phải gia nhập Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư.

Phương án thứ hai, Liên đoàn luật sư tổ chức kỳ thi (bar examination) và Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Đối với luật sư muốn hành nghề trong các Văn phòng luật sư, Công ty luật (hành nghề tự do) có nghĩa vụ đăng ký gia nhập Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư. Đối với luật sư làm việc cho các cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp (in house lawyer) thì không bắt buộc phải gia nhập Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư.

Phương án thứ ba, Nhà nước có thể giao cho Liên đoàn luật sư tổ chức kỳ thi và cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Đối với luật sư muốn hành nghề trong các Văn phòng luật sư, Công ty luật (hành nghề tự do) có nghĩa vụ đăng ký gia nhập Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư. Đối với luật sư làm việc cho các cơ quan, tổ chức,  cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp (in house lawyer) thì không bắt buộc phải gia nhập Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư.

Các phương án trên chỉ khác nhau về thủ tục và thẩm quyền công nhận luật sư. Tuy nhiên, nó sẽ giải quyết được những câu hỏi: a) Luật sư là ai (luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư); b) Ai có thẩm quyền công nhận luật sư (Bộ Tư pháp hoặc Liên đoàn luật sư có thẩm quyền công nhận luật sư); c) Giấy tờ gì chứng minh một người là luật sư (Chứng chỉ hành nghề luật sư), còn Thẻ luật sư chỉ là giấy tờ (thẻ hội viên) chứng minh tư cách thành viên Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư. Đồng thời, nó cũng trả lời cho câu hỏi luật sư có trước hay Đoàn luật sư có trước, và tất nhiên là luật sư có trước Đoàn luật sư. Điều này cũng tương tự như nghề công chứng là sau khi được bổ nhiệm công chứng viên, thì công chứng viên có quyền hành nghề và thành lập hội công chứng. Với quy định như vậy, sẽ làm tăng số lượng luật sư, bởi vì sẽ có một số lượng không nhỏ những người có Chứng chỉ hành nghề luật sư đang và sẽ làm cho cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, mà theo quy định của Luật Luật sư họ chưa được công nhận là luật sư vì họ không tham gia Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư vì những lý do khác nhau. Thực tế cho thấy, nhiều nước trên thế giới cũng quy định theo hướng này, có nghĩa là chỉ những luật sư hành nghề trong các Văn phòng luật sư, Công ty luật (hành nghề tự do) mới tham gia Đoàn luật sư.

Trên đây là những suy nghĩ của chúng tôi về khái niệm luật sư và thẩm quyền công nhận luật sư. Rất mong nhận được ý kiến trao đổi của bạn đọc.

Trích nguồn bài viết của TS. Nguyễn Văn Tuân

Dịch vụ tìm thuê luât sư tại đây

Xếp hạng
5/5

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest
Share on tumblr

Tư vấn trực tuyến

Bài viết liên quan

Giải đáp thắc mắc

Hành hung là gì, pháp luật quy định ra sao?

Chiều 17-10, bà Nguyễn Phương Hằng livestream cho rằng mình bị ông Võ Hoàng Yên và 4 luật sư của ông Yên hành hung tại phòng làm việc Công an TP.HCM. Công an thì khẳng định bà Hằng thông tin sai sự thật. Sự việc nêu trên đã gây ra

Xem chi tiết »

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Giám đốc – Thạc sĩ Luật sư:  Nguyễn Minh Long

Công ty luật chuyên:

Hình sự – Thu hồi nợ – Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.

  • Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy:  Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
  • Văn phòng luật sư quận Long Biên: Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội
  • Điện thoại: 1900 599 979 / 098.301.9109Email: dragonlawfirm@gmail.com

Hệ thống Website:

#luatsubaochua, #luatsutranhtung, #luatsuhinhsu, #luatsugioibaochua, #luatsubaochuahanoi, #luatsubaochuahaiphong

Điều luật tham khảo

Văn bản luật

Thủ tục liên quan đến thuê luật sư

Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án hình sự

Luật hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi các chủ thể này thực hiện tội phạm. Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, những người có quyền nhờ luật sư bào chữa bao gồm:

  • Người bị bắt.
  • Người bị tạm giữ.
  • Bị can.
  • Bị cáo.
  • Bị hại.
  • Nguyên đơn dân sự.
  • Bị đơn dân sự.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ngoài những đối tượng trên, theo quy định tại Điều 27 Luật Hình sự năm 2012, người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội cũng có quyền được nhờ luật sư bào chữa cho người bị buộc tội.

Quá trình tố tụng bắt đầu từ giai đoạn điều tra – truy tố – xét xử – thi hành án. Bất kể một cá nhân, đại diện, tổ chức nào ngay khi nhận được giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan điều tra hoặc tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng nêu trên đều có quyền và cần thiết phải nhờ sự hỗ trợ của luật sư.

Tuy nhiên, vì quá trình tố tụng kéo dài đói hỏi người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ phải là người đồng hành cùng thân chủ trong xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do đó, thời điểm tốt nhất để có thể nhờ luật sư bào chữa là ngay khi nhận được giấy triệu tập từ cơ quan điều tra. Vì, khi đó, luật sư có thể can thiệp pháp lý và bảo vệ cho thân chủ ngay từ giai đoạn đầu tiên.

Luật sư hình sự sẽ giúp ích gì cho bạn?

Luật sư hình sự tham gia vào vụ án hình sự trong suốt quá trình tố tụng từ sơ thẩm đến phúc thẩm hoặc có thể trong giai đoạn tái phẩm hoặc giám đốc thẩm với vai trò là người được nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự ủy quyền tham gia vụ án hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ.

Tham gia vào ngay từ giai đoạn xác minh ban đầu, khi có giấy triệu tập và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, luật sư hình sự có những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật để bảo vệ thân chủ. Đây là một trong những quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Đóng vai trò là người bảo vệ cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Vì sao bị can/bi cáo nên nhờ/thuê luật sư hình sự ngay từ ban đầu?

  • Từ khi bị triệu tập, nghi vấn phạm tội: có thể thuê luật sư ngay từ đầu để bảo vệ quyền lợi, có thể bị hình sự hóa trong quan hệ hình sự trong quá trình điều tra xét xử.
  • Giai đoạn tạm giam điều tra: Luật sư tiếp xúc trực tiếp với bị can/thân chủ hỏi cung, đối chất, đề xuất, kiến nghị tới cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu họ thực hiện đúng quy định pháp luật để bảo cho thân chủ.
  • Tham gia bảo vệ (bào chữa) cho thân chủ tại những phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giúp phiên tòa có cái nhìn khách quan hơn về động cơ, hoàn cảnh của thân chủ.
  • Luật sư hình sự là người am hiểu pháp luật, vận dụng những kỹ năng của một người luật sư, linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, tranh tụng giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của mình.
  • Luật sư hình sự sẽ là người tư vấn đưa ra những giải pháp tốt nhất, đảm bảo đúng quy định pháp luật cho thân chủ của mình.

Đối với người bị hại thì Luật sư hình sự sẽ giúp ích những gì?

  • Luật sư thu thập chứng cứ
  • Tư vấn pháp luật hình sự cho người bị hại hiểu được hành vi của bi can/bị cáo biết được tội danh mà cơ quan điều tra khởi tố với người phạm tội đã đúng hay chưa
  • Giúp cho người bị hại soạn thảo các đơn từ kiến nghị để việc khởi tố/truy tố đối với bị can gây ra thương tích, gây ra thiệt hại cho người bị hại là “đúng người đúng tội”
  • Vấn đề về bồi thường: Luật sư tư vấn soạn thảo tính toán mức bồi thường để đưa ra yêu cầu xém xét bồi thường.

Tiêu chí để lựa chọn dịch vụ luật sư hình sự là gì?

Thông thường, mọi người có xu hướng lựa chọn luật sư thông qua quen biết vì cho rằng luật sư thông qua quen biết sẽ có độ tín nhiệm cao hơn hoặc là và có thể “nhờ vả” được. vậy đây có phải là một tiêu chí để lựa chọn luật sư?

Theo quy định tại quy tắc số 5 Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ của liên đoàn luật sư Việt Nam về quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thì một trong những quy tắc hành nghề chính là bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng, đây là một trong những quy tắc mà bất kì luật sư nào cũng thuộc nằm lòng.

Hơn nữa, hiện nay cuộc cách mạng cải cách tư pháp đã loại bỏ rất nhiều tiêu cực trong hoạt động tố tụng, quá trình xét xử, theo thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP quá trình xét xử phải được ghi âm ghi hình đảm bảo sự minh bạch rõ ràng tránh những hoạt động, hành vi tiêu cực trong xét xử.

Bất kỳ luật sư nào cũng có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho thân chủ của mình, và quy trình hoạt động tố tụng cũng đã được quy định chặt chẽ hơn, các hoạt động tiêu cực cũng từ đó bị triệt tiêu dần. Do đó, yếu tố người thân người quen không phải là một trong những yếu tố, tiêu chí để lựa chọn luật sư, mà tiêu chí để lựa chọn luật sư bao gồm những tiêu chí sau:

  • Luật sư có chuyên môn trong lĩnh vực hình sự, đây là một yếu tố quan trọng của một luật sư hình sự vì phải hiểu rõ lý luận pháp luật, cập nhật thường xuyên những thay đổi của pháp luật, am hiểu cơ chế hoạt động điều tra thì mới có thể bảo vệ tốt cho thân chủ của mình.
  • Luật sư có kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, trong thực tiễn và tham gia tố tụng trong nhiều vụ án vì càng tham gia nhiều vụ án thì càng tích lũy được nhiều bản lĩnh, kinh nghiệm thâm niên lâu có thể giải quyết được không chỉ những vấn đề pháp luật mà vấn đề quan hệ với các cơ quan tố tụng, cơ quan điều tra.
  • Thấu hiểu hoàn cảnh, động cơ, lý do, hoàn cảnh của thân chủ ví dụ như: do hoàn cảnh khó khăn, do nền tảng gia đình không tốt, do rơi vào tình thế bắt buộc, … từ đó mới xây dựng được phương án, cung cấp dịch vụ tốt nhất cho thân chủ.
  • Chi phí dịch vụ luật sư, tùy vào từng trường hợp, vụ việc cụ thể chi phí luật sư sẽ khác nhau, có những vụ án có tính chất phức tạp, thì ngoài chi phí luật sư còn nhiều chi phí khác như chi phí giám định thương tích thương tật, giám định tự thi, chi phí dựng hiện trường, … Do đó, Tùy vào từng vụ việc cụ thể và hoàn cảnh của thân chủ để đưa ra mức phí phù hợp.

Phí dịch vụ luật sư hình sự được tính như thế nào?

Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư phải thông báo rõ ràng mức thù lao, chi phí cho khách hàng, tuy nhiên, vì tính chất nhạy cảm của vụ án hình sự, chi phí dịch vụ hình sự không giống như các chi phí dịch vụ luật sư khác, không có mức phí cố định, rõ ràng.

Như đã đề cập ở trên, tùy vào từng trường hợp cụ thể của vụ việc mà phí dịch vụ luật sư sẽ khác nhau. Chi phí luật sư trong vụ án hình sự rất phức tạp, tùy vào từng sự việc, luật sư đưa ra mức chi phí cụ thể, do đó, quý khách hàng cần phải gặp trực tiếp với luật sư của công ty luật để có thể trao đổi và đánh giá tính phức tạp của vụ việc mới có thể đưa ra được mức phí phù hợp

Ngoài chi phí dịch vụ luật sư, còn có những khoản phí riêng khác, không nằm trong chi phí dịch vụ luật sư như:

  • Chi phí giám định thương tật
  • Chi phí cho người làm chứng
  • Chi phí bồi thường dân sự

Có cam kết kết quả trong vụ án hình sự không?

Công ty luật Dragon của chúng tôi đảm bảo thực hiện công việc theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và đảm bảo tuân thủ đúng 27 quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội Đồng luật sư toàn quốc.

Công ty chúng tôi luôn đặt quyền lợi khách hàng lên đầu, cam kết giữ bí mật những thông tin liên quan đến khách hàng, đem những hiểu biết, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng hình sự, sự tận tâm, nhiệt tình của mình đến cho khách hàng.

Trên đây là toàn bộ nội dung bài giới thiệu dịch vụ luật sư hình sự và hướng dẫn cách chọn luật sư hình sự. Quý khách hàng nếu có nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư hình sự của công ty chúng tôi hoặc có thắc mắc về chính sách dịch vụ luật sư của công ty vui lòng liên hệ hotline 098.301.9109 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Luật Dragon nhận hỗ trợ “tư vấn” trực tuyến 24/24 qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: congtyluatdragon@gmail.com
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Dragon
  • CÔNG TY LUẬT DRAGON

    LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG QUÝ KHÁCH!

    TRỤ SỞ CHÍNH CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Add: Phòng 14.6, Tòa nhà Vimeco, Lô 9E, Đường Phạm Hùng, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Tel: 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN LUẬT SƯ TẠI QUẬN LONG BIÊN:

    Add: Số 24 ngách 29 Phố Trạm phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI HẢI PHÒNG:

    Add: Số 102, Lô 14 đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Lâm,Quận Hải An, Hải Phòng.

    Tel : 1900. 599. 979

    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI TP HCM:

    Tel : 1900. 599. 979

    =====================

    BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY LUẬT DRAGON:

    Luật Sư Nguyễn Minh Long

    Điện Thoại: 098.301.9109

    Email: dragonlawfirm@gmail.com

Quy trình giải quyết vụ án hình sự

Từ khóa: thuê luật sư vụ án hình sự,Giá thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư vụ án hình sự,Có nên thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư có được bồi thường,Hợp đồng thuê luật sư,Chi phí thuê luật sư bào chữa, chi phí thuê luật sư bào chữa

Luật sư bào chữa giỏi tại Hải Phòng

Xã hội càng phát triển, nghề luật sư càng có vai trò quan trọng. Hằng ngày, nhiều tranh chấp, kiện tụng phát sinh và luật sư phải đứng ra tranh đấu để bảo vệ lẽ phải, công lý.

Bảo vệ lẽ phải

Luật sư Nguyễn Minh Long ở Văn phòng luật sư Dragon (Chi nhánh Hải Phòng) đã có gần 10 năm gắn bó với nghề. Giống như nhiều đồng nghiệp khác, công việc trong ngày của anh khá bận rộn và luôn phải di chuyển. Từ việc xếp lịch gặp khách hàng, lịch làm việc tại tòa án, đi thu thập chứng cứ… đều được anh thực hiện một cách cẩn trọng. Nhiều khi các luật sư còn trở thành chuyên gia tâm lý giúp thân chủ và người nhà yên tâm, tin tưởng vào lẽ phải.

Luật sư Long cho biết: “Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ công lý và lẽ phải. Vì vậy, mỗi vụ việc đều phải được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, chính xác, mất nhiều thời gian, công sức. Chỉ cần một sai sót cũng có thể dẫn đến những hậu quả khó lường”.

Giữ tâm trong sáng

Luật sư Long chia sẻ, hơn 10 năm gần đây, xã hội, con người có nhiều thay đổi, phát sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp. Các vụ án liên quan đến kinh tế, hình sự, tranh chấp đất đai, hôn nhân – gia đình xảy ra nhiều hơn, phức tạp hơn. Vì thế, công việc của giới luật sư cũng vất vả gấp nhiều lần. Tuy nhiên, anh quan niệm phải luôn giữ tâm trong sáng để mỗi vụ việc đều được xử lý chính xác, theo đúng pháp luật. Nhiều lúc, các luật sư còn trở thành chuyên gia tư vấn  miễn phí.

Năm 2012, luật sư Long nhận tư vấn thủ tục ly hôn cho một phụ nữ ngoài 50 tuổi ở Quận Hồng Bàng. Do người chồng làm thợ xây nên hay đi nhiều nơi, có quan hệ phức tạp, về nhà thường chửi mắng vợ con. Không chịu nổi tình cảnh này, người vợ quyết định ly hôn. Qua tiếp xúc và tìm hiểu câu chuyện, anh Phán nhận thấy vẫn có cơ hội cứu vãn cuộc hôn nhân này. Bằng vốn kinh nghiệm qua từng vụ án và đời sống thường ngày, anh phân tích, giảng giải để người phụ nữ kia hiểu được điều hơn, thiệt. Lúc đầu, người phụ nữ này không nghe mà cương quyết đưa chồng ra tòa. Tuy nhiên, sau nhiều lần tiếp xúc, động viên, phân giải, họ đã chữa lành được vết thương, bỏ qua những lỗi lầm để hàn gắn trở lại.

Một số người vẫn hay nghĩ luật sư là nghề có nhiều quan hệ, kiếm được nhiều tiền nhưng thực tế những khó khăn, vất vả chỉ có người trong nghề mới hiểu hết. Để có thể trở thành một luật sư phải trải qua một thời gian dài học tập và đào tạo. Theo quy định, ngoài tấm bằng cử nhân, luật sư phải qua lớp đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư, thời gian tập sự và thi qua kỳ thi kết thúc tập sự. Thời gian này tối thiểu là 6 năm hoặc có thể kéo dài hơn. Có người theo đuổi cả chục năm mới trở thành một luật sư.

Luật sư Long cho biết: “Công việc vất vả lắm nhưng thu nhập của anh em luật sư cũng chỉ đủ sống. Nhiều khi gặp trường hợp khó khăn, người cao tuổi, gia đình chính sách, chúng tôi chỉ làm giúp chứ không nhận phí. Gặp người tốt, sau khi tư vấn hay hoàn tất vụ việc thì họ đến có lời cảm ơn. Nhưng cũng có trường hợp mình thấy vấn đề của họ khiếu nại là sai, phân tích để nhận ra lẽ phải thì họ phản ứng ra mặt, thậm chí còn có những lời nói không đúng mực. Dù vậy, chúng tôi vẫn luôn giữ vững cái tâm với nghề”.

Công việc vất vả nên không phải ai cũng gắn bó được với nghề. Vì thế, người trẻ thường ít chọn học luật và đầu tư thời gian, chất xám để trở thành luật sư. Hiện nay, Hải Phòng có hơn 100 luật sư đang hành nghề, trong đó có khoảng 30 người là người cao tuổi, đã nghỉ hưu. Chỉ có tình yêu nghề mới giúp họ gắn bó với nghề luật sư trong thời gian dài. Mặc dù khó khăn là thế nhưng các luật sư như anh Long  luôn tin rằng nghề luật sư sẽ có triển vọng trong tương lai vì góp phần bảo đảm công bằng xã hội.

Văn phòng luật sư Dragon Hải Phòng

Khi nào cần thuê luật sư bào chữa

Thuê luật sư là việc người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị buộc tội, bị can, bị cáo và người thân thích của họ là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà… thuê luật sư bào chữa cho trường hợp của gia đình nhà mình

Vai trò của Luật sư, luật sư tham gia vụ án hình sự với vai trò là người bào chữa, khi thực hiện bào chữa cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo trong tất cả các giai đoạn từ Điều tra vụ án, khởi tố vụ án, Truy tố vụ án và xét xử vụ án, luật sư sẽ thực hiện các quyền bào chữa để bảo chữa cho các bị can, bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình. Việc luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn này là hết sức cần thiết vì tham gia ngay từ ban đầu sẽ bảo đảm được quyền của người bị bắt cũng như làm sáng tỏ các sự kiện khách quan của vụ án

Thuê luật sư bảo chữa cho bị can khi phạm tội Khi một ai đó có hành vi phạm tội đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan Công an khởi tố vụ án và khởi tố bị can, lúc đó người bị khởi tố trở thành bị can và có quyền mời luật sư bào chữa cho mình để tham gia vào vụ án. Luật sư khi tham gia bào chữa cho bị can sẽ giúp đỡ bị can về mặt pháp luật, sử dụng các biện pháp cần thiết và hợp pháp để bảo vệ bị can. Quá trình bào chữa của luật sư cho bị can từ khi bị mời lên làm việc, khi bị khởi tố tại cơ quan Điều tra, khi bị Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền truy tố bị can bằng Bản cáo trạng và cho đến khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. nói như vậy không có nghĩa là luật sư sẽ chấm dứt tư cách bào chữa cho bị can mà tư cách của bị can được chuyển sang thành tư cách Bị cáo.

Thuê luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Khi một bị can hay người bị buộc tội bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lúc đó được chuyển sang một tư cách mới là tư cách bị cáo, Luật sư người bào chữa tiếp tục bào chữa cho bị cáo trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án ở giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị cáo có kháng cáo và tiếp tục mời luật sư bào chữa cho mình. Luật sư bào chữa cho bị cáo có những quyền và nghĩa vụ nhất định, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cũng như trao đổi với bị cáo để sao cho bào chữa cho bị cáo được tốt nhất.

Thuê luật sư tham gia vụ án hình sự là trường hợp đã xác định một vụ án hình sự, vụ án có thể hình thành từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành điều tra hoặc có thể vụ án đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành xem xét truy tố ra tòa án và cũng có thể vụ án đã được tòa án chuẩn bị đưa ra xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Luật sư tham gia vào vụ án hình sự sẽ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của người bào chữa để nghiên cứu hồ sơ và bào chữa cho người được bào chữa.

Thuê luật sư bảo vệ cho người bị hại trong vụ án hình sự: Trong vụ án hình sự liên quan đến thiệt hại luật sư sẽ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại, tham gia và các giai đoạn tố tụng tại Cơ quan Điều tra, Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án; sao chụp hồ sơ tài liệu, thu thập chứng cứ và đưa ra cũng như bảo vệ các yêu cầu về bồi thường thiệt hịa cho người bị hại. Trong quá trình tranh tụ tại Tòa án, Luật sư sẽ phát biểu quản điểm luận tội đối với các bị cáo đã gây ra cho bị hại; nếu vụ án cần phải kháng cáo luật sư sẽ giúp bị hại thực hiện việc kháng cáo bản án theo quy định.

Thuê luật sư bào chữa cho người chưa thành niên, người chưa thành niên khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là những người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (14 tuổi) nhưng chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi phạm tội thì bắt buộc phải có luật sư. Thông thường bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp hay người giám hộ sẽ thuê luật sư bào chữa. Trường hợp không thể có điều kiện thuê luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định luật sư bào chữa. Đây là quyền cơ bản của người dưới thành niên để có thể bào chữa cho hộ được tốt nhất.

Luật sư bào chữa để trả hồ sơ điều tra bổ sung là trường hợp luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và vào từng giai đoạn cụ thể có thể là giai đoạn truy tố tại Viện kiểm sát, Luật sư kiến nghị việc trả hồ sơ cho cơ quan Điều tra để tiến hành điều tra bổ sung hoặc sau khi Viện kiểm sát đã quyết định truy tố bằng Bản cáo trạng ra Tòa án có thẩm quyền thì Luật sư kiến nghị Thẩm phán thụ lý vụ án ra Quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tại phiên tòa luật sư bào chữa để Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Giai đoạn mà luật sư có quyền tham gia theo quy định tại Bộ luật TTHS, Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

“a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.”

Bên cạnh đó, Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:

“Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.”

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

“1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Bạn có thể tham khảo thêm nội dung tư vấn áp dụng văn bản pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

I. Giai đoạn tố tụng mà luật sư có thể tham gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì người bào chữa có thể là:

1.  Luật sư;

2.  Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

3.  Bào chữa viên nhân dân.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 58 BLTTHS có quy định: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Căn cứ những quy định trên, luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa cho em bạn khi em bạn hoặc gia đình bạn có giấy mời luật sư sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của BLTTHS và những văn bản có liên quan.

II. Quyền hạn của Luật sư (người bào chữa)

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì Luật sư (người bào chữa) có quyền:

1.  Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

2.  Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

3.  Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

4.  Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;

5.  Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

6.  Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

7.  Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

8.  Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

9.  Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

10. Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Thuê luật sư bào chữa hình sự ở Hà Nội

Gọi cho một luật sư chuyên hình sự tại Hà Nội : 1900. 599. 979

Bạn đã bị buộc tội về một tội ác mà bạn đã không phạm phải và tìm kiếm công lý nhanh chóng và không bị tổn thương trong khi duy trì danh dự và nhân phẩm của bạn? Hoặc, có lẽ bạn đã là nạn nhân của một tội ác và tìm kiếm sự trừng phạt hợp pháp đối với những người đã làm hại bạn hoặc gia đình bạn. Bạn thậm chí có thể tự mình phạm tội và mong muốn giải quyết tốt nhất có thể. Bất kể nguyên nhân hay động cơ, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ tạo điều kiện cho công lý nhanh chóng và phù hợp cho các khách hàng tại Hà Nội và Hải Phòng của chúng tôi để họ nhận được phán quyết tốt nhất có thể.

Đó là, nếu bạn đã bị nhà nước buộc tội theo bộ luật hình sự, bắt buộc phải xuất hiện trước cơ quan quản lý hoặc muốn kháng cáo quyết định, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn cung cấp cho bạn sự hài lòng hoàn toàn. Hơn nữa, chúng tôi tính phí trên cơ sở lãi suất cố định để bạn nhận thức đầy đủ về các khoản chi tiêu trước khi chúng tôi thực hiện trường hợp của bạn. Bạn sẽ không bao giờ phải lo lắng về các cáo buộc ẩn hoặc những bất ngờ khó chịu khác trước và sau khi phán quyết được đưa ra.

Hơn nữa, Văn phòng Luật sư Dragon sẽ luôn bảo vệ bạn một cách trung thực và đạo đức. Chúng tôi sẽ sử dụng mọi phương tiện theo ý của chúng tôi để đảm bảo rằng công lý được đáp ứng và bạn sẽ nhận được phán quyết tốt nhất có thể, đưa ra bằng chứng. Văn phòng luật sư Dragon cũng sẽ tham khảo đầy đủ với bạn về các tùy chọn có sẵn và đề xuất lựa chọn tốt nhất cho nhu cầu duy nhất của bạn. Đó là, chúng tôi luôn đặt lợi ích tốt nhất của bạn lên hàng đầu và sẽ thực hiện các bước chủ động để vượt ra ngoài sự đại diện đơn thuần.

Ví dụ, các luật sư hình sự tại Hà Nội của chúng tôi được yêu cầu đăng ký vào các chương trình sáng kiến ​​giáo dục thường xuyên để họ cập nhật kiến thức hiểu biết hệ thống pháp lý – và tất cả các sắc thái của nó – một cách triệt để. Chúng tôi cũng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ để đảm bảo rằng kiến ​​thức về các đạo luật pháp lý của chúng tôi luôn cập nhật và chính xác.

Do đó, nếu bạn đã bị buộc tội hoặc là nạn nhân của tội phạm, bạn sẽ cần một luật sư pháp lý tốt nhất để đưa ra phán quyết mà bạn mong muốn. Các công tố viên và luật sư hình sự tận tâm, có kinh nghiệm và có trình độ học vấn cao của chúng tôi có một hồ sơ theo dõi thành công đã được chứng minh và có khả năng sẽ tạo điều kiện cho bản án mà bạn và gia đình bạn mong muốn. Hơn nữa, chúng tôi đã xử lý các vụ án hình sự từ rửa tiền đến giết người hàng loạt. Do đó, không có vụ án hình sự nào ở Hà Nội quá tầm thường hay khó khăn đối với các luật sư hình sự tại Văn phòng Luật sư Dragon.

Hãy cho chúng tôi về trường hợp hay vụ việc của bạn

Đại diện tư vấn trực tiếp của chúng tôi luôn sẵn sàng 24/7 để hỗ trợ bạn và có thể lên lịch tư vấn với chuyên gia luật của chúng tôi.

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt

Thuê luật sư bào chữa cho người bị bắt là trường hợp người bị tình nghi hay còn gọi là nghi can có thể bị bắt quả tang hoặc bị tạm giữ song bắt hoặc bị mời về làm việc tại trụ sở cơ quan điều tra song bắt, trong tường hợp này người bị bắt có quyền thuê luật sư để bào chữa cho mình.

Người bị bắt tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt tạm giữa người bị bắt tạm giữ được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

Người bị bắt tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp có các quyền:

– Được biết lý do mình bị giữ;

– Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự;

– Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

– Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

– Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá và các quyền khác

Người bị bắt tạm giữ có được quyền nhờ luật sư. Theo quy định thì người bị bắt tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bảo chữa cho mình. Nếu nhờ luật sư bào chữa họ có quyền yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ việc liên hệ luật sư để họ có thể nhờ luật sư bào chữa cho mình, ngoài ra họ cũng có các quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.

Người bị bắt theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự thì là bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt theo quyết định truy nã. Khi bị bắt người bị bắt có các nghĩa vụ chấp hành lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền bắt người theo quy định của pháp luật.

Người bị bắt khi bị bắt có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa và một số quyền cơ bản sau:

Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người. Và một số quyền khác.
Khi bị tạm giữ có được thuê luật sư? Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Ngoài các quyền cơ bản được quy định tại Khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc thuê luật sư bào chữa.

Thuê luật sư bào chữa tại Công ty luật Dragon. Vui lòng liên hệ: 1900.599.979

 

Khi chưa khởi tố mà nhận được giấy triệu tập của công an có nên thuê luật sư bào chữa

Tôi có giấy triệu tập của công an thành phố, liên quan đến tội trộm cắp xảy ra do bạn tôi làm đơn, mặc dù tôi khẳng định tôi không liên quan đến sự việc của bạn tôi mất trộm? mất bao nhiêu tiền? mất ở đâu ? như thế nào? bạn ấy làm đơn vu khống cho tôi.. Tôi bị công an gọi điện mời tôi, tôi vì không hiểu pháp luật nên đã ký hợp đồng thuê luật sư bào chữa bảo vệ cho tôi, đến lịch hẹn làm việc theo giấy triệu tập? Luật sư của tôi đi cùng tôi đến xuất trình tại công an điều tra như giấy giới thiệu, đơn mời luật sư bào chữa và thẻ luật sư, nhưng bên công an đã từ chối không cho luật sư bào chữa cho tôi tham gia với lý do, hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố tôi, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc, công an đề nghị tôi và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý? Lúc đấy tôi thấy luật sư bảo tôi cứ làm việc với công an và luật sư bỏ ra về. Tôi rất hoang mang và đã bị sốc nên từ chối không làm việc với công an và xin hẹn buổi khác, tôi có nói với công an là phải có luật sư thì tôi mới làm việc sau đó tôi đi về. Luật sư của tôi không giải thích cho tôi biết lý do và ý kiến của cơ quan điều tra đúng hay sai? Nay tôi nhờ luật sư tư vấn ý kiến của công an như vậy có đúng không? luật sư bảo vệ cho tôi làm như vậy có đúng không? Tôi rất hoang mang khi tìm chọn một công ty luật có uy tín mà lại có một luật sư hành xử như vậy? Rất mong Công ty luật Dragon tư vấn gấp cho tôi.

Phúc đáp yêu cầu tư vấn pháp luật của anh/chị, đề nghị cho ý kiến về một số nội dung pháp lý liên quan đến việc: người bị kiến nghị khởi tố/bị tố giác có được mời Luật sư không, Luật sư Công ty luật Dragon có ý kiến như sau:

*) Đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Theo như trình bày thì anh/chị đang bị tố giác về hành vi trộm cắp tài sản. Khoản 1 Điều 83 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác là người được người bị tố giác nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Luật sư là một trong những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác (điểm a khoản 2 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, anh/chị có quyền mời Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay từ khi bị tố giác (từ khi chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can).

Khoản 1 Điều 27 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012) quy định: “Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật này”.

Bộ Luật Tố tụng hình sự không quy định rõ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác phải xuất trình những giấy tờ gì khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm làm việc thực tế của Luật sư và quy định tại điểm a khoản 2 Điều 78 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì những giấy tờ Luật sư cần xuất trình khi làm việc với Cơ quan CSĐT là: Giấy giới thiệu của công ty luật cử luật sư đến cơ quan điều tra làm việc, Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu đơn mời luật sư của người bị tố giác ( anh chị cũng như Luật sư không phải xuất trình Hợp đồng dịch vụ pháp lý).

Như vậy, việc công an từ chối không cho luật sư tham gia với lý do: hiện nay chưa khởi tố vụ án, chưa khởi tố bị can, công an chỉ mời lên làm rõ sự việc và đề nghị anh và luật sư bổ sung thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý là vi phạm tố tụng.

*) Quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác:

Khoản 3 Điều 83 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác có quyền:

  1. a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  2. b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
  3. c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
  4. d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;

đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Luật sư bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh/chị không đưa ra ý kiến nào và bỏ về khi bị công an từ chối là không thực hiện quyền của mình theo quy định trên. Không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho khách hàng. Việc anh/chị từ chối không làm việc với công an, xin hẹn buổi khác và nói với công an là phải có luật sư bào chữa cho anh/chị thì anh/ chị mới làm việc với cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật.

Trên đây là quan điểm ý kiến của Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Minh Long Giám đốc Công ty Luật Dragon – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội về nội dung vụ viêcj trên.

Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với Luật sư Hà Nội và Luật sư Hải Phòng theo địa chỉ dưới đây.

  1. Trụ sở chính Công ty Luật Dragon tại quận Cầu Giấy:  Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  2. VPĐD luật sư Công ty luật Dragon tại quận Long Biên: Số 24 Ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Tp Hà Nội.
  3. Chi nhánh Công ty Luật Dragon tại Hải Phòng: Phòng 6 tầng 4 Tòa Nhà Khánh Hội, đường Lê Hồng Phong, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.

Công ty Luật Dragon cung cấp biểu phí và thù lao luật sư bào chữa tham khảo tại đây

Trân trọng!

CÔNG TY LUẬT DRAGON

Luật sư chuyên bào chữa vụ án hình sự

ĐIỀU LUẬT

ÁN LỆ